Top 6 Bài văn phân tích đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” trong vở chèo “Quan âm Thị Kính”

05-02-2021 6 643 0 0

Báo lỗi

Chèo là loại kịch hát, múa dân gian, kể chuyện, diễn tích bằng hình thức sân khấu và trước kia được diễn ở sân đình nên được gọi là chèo sân đình. Chèo nảy sinh và được phổ biến rộng rãi ở Bắc Bộ. Vở chèo “Quan âm Thị Kính” nói chung và trích đoạn “Nỗi oan hại ông xã” nói riêng là vở diễn và trích đoạn chèo rất tiêu biểu của sân khấu chèo truyền thống. Vở chèo và trích đoạn đã thể hiện được những phẩm chất đẹp đẽ cùng nỗi oan bi thảm, bế tắc của người phụ nữ và những đối lập giai cấp trải qua xung đột gia đình, hôn nhân trong xã hội phong kiến. Mời những bạn xem thêm một số bài văn phân tích đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” đã được Toplist tổng hợp trong bài viết dưới đây.

123456

1


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” số 1

Quan Âm Thị Kính là một vở chèo cổ nổi tiếng của sân khấu chèo. Nội dung của vở chèo chia làm ba phần. Phần một là Án giết chống: Thiện Sĩ, con trai Sùng ông, Sùng bà gia đình khá giả, kết hôn cùng Thị Kính, con gái Mãng ông, một nông dân nghèo. Một hôm, vợ ngồi khâu, ông xã đọc sách rồi thiu thiu ngủ. Thấy ông xã có sợi dâu mọc ngược, Thị Kính cầm dao khâu toan xén đi. Thiện Sĩ giật mình hoảng sợ vội hô hoán lên, Sùng bà tức giận đổ riệt cho con dâu có ý giết ông xã, mắng chửi thậm tệ và đuổi Thị Kính về nhà ba má đẻ. Phần 2 là Án hoang thai : Bị oan ức nhưng không thể thanh minh, Thị Kính đành giả trai, vào tưở chùa Vân Tự, lấy pháp danh là Kính Tâm. Thị Mầu, con gái phú ông, vốn tính lẳng lơ, đem lòng say mê chú tiểu Kính Tâm. Ve vãn Kính Tâm không được, Thị Màu ăn nằm với anh Nô là nô lệ rồi có thai. Làng bắt vạ. Bí thế, Thị Mầu đổ cho Kính Tâm, Kính Tâm chịu oan, bị sư cụ đuổi ra khỏi tam quan (cổng chùa), Thị Màu đem con bỏ cho Kính Tâm. Phần 3 là Oan tình được giải, Thị Kính lên tòa sen: Trải qua ba năm, Kính Tâm đi xin sữa từng ngày nuôi con của Thị Mầu. Rồi nàng “hóa” (chết), được lên tòa sen, trở thành Phật Bà Quan Âm. Trước khi “hóa”, Kính Tâm viết thư để lại cho đứa trẻ. Bấy giờ mọi người mới biết Kính Tâm là gái và hiểu ro tấm lòng từ bi nhẫn nhục của nàng.

Nỗi oan hại ông xã và cái án oan hoang thai là hai sự kiện chính của vở chèo. Qua đó, tác giả dân gian phản ánh thảm kịch trong thân phận của người phụ nữ nghèo khổ thời phong kiến. Hai sự kiện tuy thuộc hai mảnh đời không giống nhau của Thị Kính nhưng liên hệ chặt chẽ với nhau. Cảnh ngộ nào cũng éo le, đau đớn nhưng mỗi cảnh ngộ lại có một vẻ riêng. Chúng phối kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau để hoàn chỉnh tấn thảm kịch về cuộc đời người phụ nữ. Bên cạnh nội dung đó, vở chèo còn có dụng ý tôn vinh phẩm chất cao quý của người phụ nữ và lên án cái xấu, cái ác trong xã hội phong kiến xưa.

Trích đoạn Nỗi oan hại ông xã là cốt lõi trong phần mở đầu của vở chèo. Phần này có năm nhân vật tham gia vào quy trình tạo ra xung đột kịch và làm nền cho nhân vật Thị Kính bộc lộ phẩm chất cao đẹp. thiện Sĩ và Sùng ông là những kẻ nhu nhược, không tồn tại chủ kiến, chỉ đóng vai phụ để làm nổi trội tính cách điêu ngoa, nanh ác của Sùng bà. Xung đột cơ bản của vở chèo được thể hiện qua xích míc của Sùng bà và Thị Kính (mẹ ông xã, nàng dâu). Sùng bà thuộc loại nhân vật mụ ác, đại diện cho tầng lớp địa chủ phong kiến với những thói hư tật xấu như hóm hĩnh, tự phụ về dòng giống cao sang, cả vú lấp miệng em, luôn lấy mình làm chuẩn mực để đánh giá, đánh giá người khác theo nhân thức hồ đồ của tớ, Thị Kính thuộc loại nhân vật nữ chính trong chèo, đại diện cho người phụ nữ lao động nghèo. Thị Kính là nàng dâu ngoan hiền nết na, thùy mị nhưng bị Sùng bà nanh ác buộc tội giét ông xã. Gia đình nhà ông xã đã gây ra cho Thị kÍnh những nỗi oan ông xã chất. Nàng bị hàm oan, hạnh phúc tan vỡ, bị đuổi khỏi nhà ông xã và đau khổ nhất là phải chứng kiến cảnh người cha thân yêu bị sỉ nhục.

xích míc giữa Sùng bà và Thị Kính về hình thức là xung đột trực tiếp giữa mẹ ông xã nàng dâu nhưng về thực chất lại là xích míc sâu sắc giữa kẻ thống trị và người bị trị. Đó là cái nút thứ nhất trong vở chèo bộc lộ thân phận, địa vị thấp kém của người phụ nữ nghèo trong quan hệ gia đình và hôn nhân phong kiến. Mở đầu là cảnh sinh hoạt đầm ấm, (vợ vá may thêu thùa. ông xã đọc sách), tuy không phổ biến và gần gũi như cảnh ông xã cày, vợ cấy, con trâu đi bừa trong ca dao nhưng nó cũng thể hiện khát vọng về hạnh phúc gia đình của nhân dân lao động.

Trong khung cảnh ấy nổi trội lên hình ảnh người vợ thương ông xã. Những cử chỉ của Thị Kính đối diện với Thiện Sĩ rất ân cần, dịu dàng. Khi ông xã học bài mệt mỗi đêm ngủ thiếp đi, nàng dọn lại kỉ rồi ngồi quạt cho ông xã. Thấy sợi râu mọc ngược dưới cằm ông xã, nàng do dự lo lắng về một điềm báo chẳng lành. Thị Kính muốn làm đẹp cho ông xã và cho mình: Trước đẹp mặt ông xã, sau đẹp mặt ta… , Dạ thương ông xã, lòng thiếp sao an. Âu dao bén, thiếp xén tày một mực. Tâm trạng của nàng là tâm trạng của người vợ yêu thương ông xã thắm thiết.

Việc làm đầy thiện ý của Thị Kính vẫn chưa kịp tiến hành thì Thiện Sĩ chợt giật mình choàng thức dậy, hốt hoảng nắm lấy con dao kêu lên : Hỡi cha! Hỡi mẹ ! Hỡi xóm ! Hỡi làng ! Đêm hôm khuya khoắt bỗng làm sao thấy sự bất thường… khiến cho cả nhà tỉnh giấc. Chẳng cần hỏi rõ đầu đuôi mẩu truyện ra sao, Sùng bà đã sừng sộ khép ngay Thị Kính vào tội giết ông xã: Cái con mặt gan lim này ! Mày định giết con bà à? Thái độ của Sùng bà rất thô bạo và tàn nhẫn. Khi Thị Kính khóc lóc cầu xin được thanh minh, Sùng bà dúi đầu Thị Kính ngã xuống rồi lại bắt nàng ngửa mặt lên để nghe mụ chửi, chứ không cho phân bua, thanh minh gì cả.

Sùng bà nói với Thị Kính toàn là những lời đay nghiến, mắng nhiếc, lăng mạ. có vẻ như một lần mụ cất lời, Thị Kính lại bị kết thêm một tội. Mụ trút cho Thị Kính đủ tội mà không nhất thiết phải ghi nhận sự tình. Mụ xỉ vả, đuổi Thị Kính ra khỏi nhà không những vì lí do cho rằng Thị Kính giết ông xã mà Thị Kính còn là loại đàn bà hư đốn, tâm địa xấu xa; là con nhà thấp hèn không xứng với nhà mụ: Giống nhà bà đây giống phượng giống công – Còn tuồng bay mèo mã gà đồng lẳng lơ – Nhà bà đây cao môn lệnh tộc – Mày là con nhà cua ốc – Trứng rồng lại nở ra trứng rồng – Lìu điu lại nở ra dòng lìu điu – Đồng nát thì về Cầu Nôm, Con gái nỏ mồm về ở với cha… toàn bộ những lời nói và cử chỉ đó đã bộc lộ thực chất của một mụ nhà giàu bất nhân, bất nghĩa.

Lời lẽ của mụ chứa đựng toàn là sự phân biệt đối xử. Vốn từ ngữ dùng để so sánh chuyện cao thấp, sang hèn, giàu nghèo… của mụ phong phú đến mức đáng sợ. xích míc giữa mụ và Thị Kính đã vượt khỏi xích míc mẹ ông xã – nàng dâu. Mụ đã trả nó vào đúng vị trí là xích míc giai cấp. những điệu hát sắp, nói lệch… tương thích với việc thể hiện thái độ trấn áp phũ phàng và giọng nói điệu kiêu kì, tự phụ về dòng, giống giàu sang, khinh thị người nghèo khó của mụ. Nhân vật Sùng bà chỉ xuất hiện trong một lớp diễn nhưng đã bộc lộ đầy đủ tính cách của vai mụ ác trong vai chèo cổ. Mụ ra oai sấm sét để tỏ ra ” phép nhà”. Mụ tự cho mình cái quyền tạo ra “luật” và “lệ” trong gia đình Thị Kính tuy có đủ đức hạnh như lễ giáo phong kiến quy định nhưng vẫn không được gia đình đồng ý chính vì nàng không xuất thân từ nguồn gốc ” con nhà gia thế”. Quả là xích míc giai cấp không thể dung hòa đã tác động ghê gớm đến cuộc hôn nhân này.

Khi bị mẹ ông xã khép vào tội giết ông xã, Thị Kính đã có những lời nói, cử chỉ thật nhẫn nhục, đáng thương. Năm lần kêu oan thì bốn lần tiếng kêu của nàng hướng về ông xã và mẹ ông xã. Lần thứ nhất, nàng kêu oan với mẹ ông xã : Giời ơi ! Mẹ ơi, oan cho con lắm mẹ ơi ! Lần thứ hai, vẫn với mẹ ông xã : Oan cho con lắm mẹ ơi! Lần thứ ba, kêu oan với ông xã: Oan thiếp lắm chàng ơi! Lần thứ tư, một lần nữa, lại kêu oan, cầu xin mẹ ông xã : Mẹ xét tình cho con, oan con lắm mẹ ơi!

Thị Kính kêu oan với ông xã nhưng vô ích bởi Thiện Sĩ là gã đàn ông đơn hèn, nhu nhược. Hắn bỏ mặc người vợ hết lòng thương yêu, chăm sóc gắn bó với mình cho bà mẹ độc ác hành hạ. Lúc này, Thiện Sũ chỉ là một nhân vật thừa trên sân khấu. Lời cầu xin của Thị Kính giống như lửa đổ thêm dầu, càng làm bùng lên những lời đay nghiến lăng nhục của Sùng bà. Thị Kính càng kêu oan, nỗi oan lại càng dày. Giữa gia đình nhà ông xã người phụ nữ đức hạnh ấy hoàn toàn cô độc. Chỉ đến lần sau cùng, Thị Kính kêu oan với cha đẻ là Mãng ông thì nàng mới nhận được sự cảm thông, nhưng đó là sự cam thông đau khổ và bất lực. Mãng ông nói trong nước mắt:

Con ơi! Dù oan dù nhẫn chẳng oan

Xa xôi cha biết nỗi con nhường nào!

Kết cục của nối oan là tình vợ ông xã giữa Thị Kính và Thiện Sĩ tan vỡ. Nàng bị đuổi ra khỏi nhà ông xã. Trước khi đuổi Thị Kính, Sùng bà và Sùng ông còn nhẫn tâm dựng lên một vở kịch tàn ác: lừa Mãng ông sang ăn cữ cháu, kì thực là bắt Mãng ông nhận con gái về. Chúng có thú vui làm điều ác, muốn cha con Mãng ông phải nhục nhã ê chề. Hơn thế nữa, nhanh như trở bàn tay, Sùng ông đã thay đổi quan hệ thông gia bằng những hành động vũ phu. Cảnh này được xây dựng bằng những chi tiết, hình ảnh, lời nói thật sinh động:

Mãng ông: Ông ơi! Ông cho tôi biết đầu đuôi mẩu truyện với, ông ơi! -Sùng ông: Biết này! -(Sùng ông dúi ngã Mãng ông rồi bỏ vào, Thị Kính chạy vội lại đỡ cha. Hai cha con ôm nhau khóc). Sự việc Sùng bà cho gọi Mãng ông đến để trả Thị Kính đã thể hiện tính cách bất nhân bất nghĩa của mụ, đồng thời bộc lộ nỗi xấu số lớn nhất của Thị Kính. Thị Kính như bị đẩy đến cực điểm của thảm kịch. Nàng chới với trong nỗi oan ức tày trời, nỗi đau tình vợ ông xã tan vỡ cộng thêm nỗi nhục nhã, đau đoén trước ảnh người cha già kính yêu bị chính cha mẹ ông xã khinh khi, hành hạ.

Cuối lớp diễn, trên sân khấu chỉ sót lại hai hca con Thị Kính lẻ loi đơn độc giữa sự vô tình đến lạnh lùng, tàn nhẫn. Cảnh hai cha con ôm nhua than khóc là hình ảnh của những người nghèo khổ chịu oan ức mà hoàn toàn bất lực. Cảnh Sùng bà quy kết, đổ vạ cho Thị Kính ra mắt chóng vánh, dồn dập. Còn cảnh hai cha con Thị Kính ôm nhau than khóc thì nối dài trên sân khấu. Sự bố trí như vậy mang ý nghĩa sâu sắc tố cáo cái ác và cảm thông sâu sắc với cái thiện đang bị cái ác bủa vây giwuax trùng trùng sóng dữ.

Thái độ của Thị Kính trước khi ra khỏi nhà ông xã được đặc tả : Thị Kính đi theo cha mấy bước nữa, rồi dừng lại và thở than, quay vào nhìn từ cái kỉ đến sách, thúng khâu, rồi cầm chiếc áo ddang khâu dở, bóp chặt trong tay. Chiếc kỉ, thúng khâu, chiếc áo đang khâu dở là vật chứng chứng tỏ cho tình cảm thủy chung, hiền dịu của người vợ yêu ông xã nhưng giờ đây lại bị coi là chứng cứ của sự thất tiết. Sự đảo lộn đột ngột đó đã làm cho trái tim đa cảm của Thị Kính đau đớn, bàng hoàng. Tâm sự của nàng thể hiện qua điệu sử rầu và nói thảm:

Thương ôi! lâu nay nay sắt cầm tịnh hảo

Bỗng ai làm chăn gối lẻ loi.

Một bên là những kỉ niệm hạnh phúc của tình vợ ông xã, một bên là khoảnh khắc chớp nhoáng của sự tan vỡ, chia lìa. Lời thoại gợi lên rất rõ hình ảnh một người con gái bị hàm oan đang cực kì đau khổ và bơ vơ trước cuộc đời vô định. Thị Kính đột ngột bị đẩy vào tình thế éo le: Biết đi đâu ? Về đâu lúc này? Đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến tránh sao khỏi cảnh Lênh đênh chiếc bách giữa dòng?!

Trong nỗi đau tình vợ ông xã chia cắt, nỗi nhục khi phẩm giá bị chà đạp, sự ê chề khi khong bảo vệ được người cha già bị gia đình ông xã sỉ nhục, Thị Kính vẫn giữ thực chất chân thực, hiền lành, giữ phép tắc luân lí của đạo dâu con. Người đọc càng xót thương, Thị Kính bao nhiêu thì càng thù ghét sự bất nhân bất nghĩa của gia đình Sùng bà bấy nhiêu.

Kết thúc đoạn trích nỗi oan hại ông xã là cảnh Thị kính cúi lạy cha rồi nói lên nguyện vọng của tớ là sẽ giả trai để bước vào cửa phật tu hành. Con đường giải thoát của Thị Kính có hai mặt tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực là Thị kính xác định phải sống ở đời, mới mong tỏ rõ là người đoan chính. Mặt tiêu cực là nàng cho rằng mình khỏ do số kiếp đã định, do phận hẩm duyên ôi, nên tìm vào cửa Phật để lánh đời. Thái độ của Thị Kính thiếu cái mạnh khỏe, lạc quan, dũng cảm của những người vợ nghèo trong ca dao. Nàng không dám đứng lên chống lại những oan trái bất công, vẫn chưa đủ bản lĩnh vượt qua hoàn cảnh nghiệt ngã, trái lại đã cam chịu bằng sự nhẫn nhục đáng thương. Phản ứng của Thị Kính mới chỉ dừng lại ở lời trách móc số phận và ước muốn lòng dạ ngay thẳng của tớ được nhật nguyệt sáng soi.

Vở chèo Quan Âm Thị Kính nói chung và đoạn trích Nỗi oan hại ông xã nói riêng là vở diễn và trích đoạn chèo rất tiêu biểu của sân khấu chèo truyền thống, thể hiện chân thực cuộc sống bi thảm, bế tắc của nhiều số phận, đồng thời ca tụng phẩm chất đẹp đẽ, cao quý của người phụ nữ nghèo trong xã hội phong kiến xưa kia.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” số 2

Việt Nam nổi tiếng với nhiều những thể loại văn hóa dân gian độc đáo, đặc trưng cho từng vùng miền trên vương quốc, ví như vùng Nam Bộ có đờn ca tài tử ngọt ngào, Huế có điệu Nam ai, Nam bằng say đắm lòng người, xứ Nghệ Tĩnh có câu hò ví dặm, đất Bắc Ninh có dân ca quan họ đậm tình truyền thống, thì cả vùng Bắc Bộ lại có những thể loại ca kịch đã lưu truyền biết bao đời này ấy là cải lương, chèo, tuồng,… Tuy nhiên do sự phát triển mạnh mẽ của nền âm nhạc hiện đại, đến ngày hôm nay những thể loại này dẫu đặc sắc mang nhiều dấu ấn truyền thống của dân tộc thế nhưng cũng dần bị mai một. Trong số đó nhắc đến chèo có lẽ vở Quan m Thị Kính đã từng in sâu trong trí óc của không ít người dân Việt Nam, trở thành vở kịch kinh điển của chèo Việt Nam và từng được diễn đi diễn lại rất nhiều lần trên những sân khấu lớn nhỏ không giống nhau, thu về sự tán thưởng của khán giả bởi nội dung sâu sắc và ý nghĩa sâu sắc nhân văn đẹp đẽ mà nó gửi gắm.

Vở Quan m Thị Kính có nguồn gốc từ một mẩu chuyện cổ tích cùng tên, chủ yếu xoay quanh trục bĩ cực – thái lai của kiếp nhân sinh, triệu tập ca tụng những phẩm chất đẹp đẽ, tài năng đức độ để mọi người trông đó mà noi theo. Cảm thông với số phận người lao động, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ, tôn vinh phẩm chất và tài năng của họ. Đồng thời cũng lên án, tố cáo, đả kích một cách mạnh mẽ những oan trái, bất công và con người cường quyền xấu xa trong xã hội cũ. Quan m Thị Kính là mẩu truyện kể về Thị Kính một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, nhưng lại có xuất thân bần hàn, được gả vào trong nhà phú ông giàu sang, rồi bị vu tội giết ông xã. Sau giả trai đi tu những tưởng đã thoát được nợ hồng trần thì lại vướng vào mối oan nghiệt với Thị Mầu, bị vu tội làm Thị Mầu chửa hoang, rồi bị đuổi khỏi chùa. Thị Kính lại tiếp tục nuôi con của Thị Mầu, cho tới khi chết thì được lên tòa sen trở thành Quan Thế m bởi tấm lòng đức độ, hy sinh, để tạo phúc cho muôn dân.

Đoạn trích Nỗi oan hại ông xã, là phần thứ nhất của tác phẩm kể về sự việc Thị Kính bị đổ oan giết ông xã, rồi bị nhục mạ, xúc phạm và đuổi về nhà mẹ đẻ trong nỗi đớn đau tủi nhục, có oan khuất mà kêu trời trời không thấu, kêu đất đất không nghe. Trước hết nói về nhân vật Thị Kính, nhân vật chính của tác phẩm, trước hết vẫn chưa nói tới ngoại hình thế nhưng ta đã thấy hiện lên Thị Kính là một người phụ nữ tỉ mỉ, săn sóc và hết mực yêu thương ông xã con. Sự tỉ mỉ ta rất có thể thấy ở việc nàng cẩn trọng ngắm dung nhan ông xã, rồi chợt phát hiện ra một sợi râu nhỏ mọc ngược, lòng săn sóc, yêu thương ông xã là ở cách Thị Kính suy nghĩ cầm quạt quạt cho ông xã an giấc, lại cẩn trọng suy nghĩ đến thể diện của ông xã với chiếc râu mọc ngược (vốn cái gì ngược ngạo cũng dễ cản trở cuộc sống). Và đặc biệt tình yêu thương ấy được thể hiện rất rõ nét trong câu hát của nàng rằng “Dạ thương ông xã lòng thiếp sao an”.

Tuy nhiên tình yêu, sự một lòng ấy của nàng lại trở thành tai vạ, đôi lúc thiết nghĩ Thị Kính vì quá thương ông xã thành ra nghĩ chẳng chu toàn, lại mất đi cái cẩn trọng. Phải chăng nàng đợi ông xã dậy rồi nói về chiếc râu, rồi với cắt thì có lẽ tình cảm vợ ông xã lại càng trở thành khăng khít chứ chẳng đến nỗi. u cũng phải nói rằng sự chịu đựng, hy sinh lặng lẽ của người phụ nữ xưa đôi lúc trở thành cái cớ khiến họ khổ sở cả một đời. Đến khi bị vu tội giết ông xã, thì Thị Kính lại tỏ rõ là một người phụ nữ yếu ớt, tội nghiệp, nàng cũng từng nhiều lần mở miệng thanh minh với cha mẹ ông xã và với ông xã, thế nhưng đáng thương cho kiếp đàn bà, lại còn là kiếp nghèo khó vậy cho nên người ta cứ mặc nhiên là nàng thủ đoạn giết ông xã vì trót có lang chạ với ai.

Như vậy, ngay trong trích đoạn này ta đã thấy được trải qua lời buộc tội của Sùng bà, thì Thị Kính đã phải gánh trên lưng hai nỗi oan khuất, thứ nhất là giết ông xã, thứ hai ấy là tội bất trung, bất trinh, lén lút tư tình với kẻ khác. Mà đối với người phụ nữ ngày xưa, vướng phải hai tội ấy thì coi như thanh danh cả đời đem bỏ, phải chịu bị người đời phỉ nhổ, cuộc đời về sau coi như hết. Đến cao trào của phần Nỗi oan hại ông xã ấy là cảnh Sùng ông gọi Mãng ông đến, nói kháy và đuổi trả Thị Kính về nhà mẹ đẻ. Lúc này đây Thị Kính đứng trước viễn cảnh cực kì đớn đau, bị nhà ông xã ruồng bỏ lại phải gánh trên lưng hai nỗi oan khó lòng hóa giải, khiến nàng cực kì đau khổ. Trước là đau xót nối duyên vợ ông xã mới bén vẫn chưa lâu đã đứt gánh giữa đường, sau là nhìn đến tương lai cuộc đời nếu có trở về nhà thì cũng phải gánh điều tiếng xấu xa cả đời. Thị Kính với tấm lòng hiếu thảo, thương xót cha mẹ, không muốn để cha mẹ trở thành nơi cho người ta bàn ra tán vào, tuổi già lại còn phải chịu uất ức, một phần là nàng muốn lánh đi để quên hết sự đời.

vậy cho nên ngay lúc trên đường trở về nhà cùng Mãng ông nàng đã giãi bày với cha xin được giả thân trai lên chùa đi tu, chấm hết hết mọi đau khổ. Điều đó thể hiện sự vô vọng và chán chường của Thị Kính với cuộc đời, với người ông xã mình hết lòng thương yêu, thế nhưng trong suốt buổi chàng ta đã chẳng hề lên một tiếng thanh minh cho mình. Bên cạnh đó cách xử sự của Thị Kính cũng là thể hiện của sự bất lực, đớn đau của người phụ nữ dưới cơ chế phong kiến quá hà khắc, nơi mà người quyền thế giàu sang trở thành kẻ định đoạt số phận cuộc đời của những kẻ nghèo hèn bằng những lý do, những suy luận trái khuấy oan nghiệt.

Nhân vật thứ hai có đóng góp cực kì quan trọng, đóng vai trò đẩy vở kịch lên cao trào đó đúng là Sùng bà, nhân vật mụ ác tiêu biểu trong thể loại chèo. Trong Nỗi oan hại ông xã, Sùng bà đúng là nhân vật có nhiều thoại nhiều cảnh hát và nói lệch nhất, rất có thể nói đây đúng là nhân vật tiêu biểu cho giai cấp thống trị trong xã hội cũ. Sùng bà hiện lên với dáng vẻ độc ác, cay nghiệt cực kì, lời thoại nhiều và dài, thậm chí liên tục cắt lời minh oan của nhân vật Thị Kính. Khi mới nghe con trai là Thiện sĩ tố Thị Kính toan giết mình, Sùng bà đã lập tức tin ngay và mặc định đó là thực sự không thể chối cãi, sự ghê gớm độc ác thể hiện qua việc bà ta quay sang gắt và trách móc ông xã việc chọn dâu con, thứ hai nữa là hành động đẩy ngã Thị Kính đang đứng ở một bên rồi liên tục dùng lời lẽ nhiếc móc.

Trong lời lẽ cay nghiệt của nhân vật này ta rất có thể nhận thấy rất rõ sự phân biệt tầng lớp, giàu nghèo sâu sắc, đem ví nhà mình là giống phượng, giống công, trái lại ví Thị Kính là dòng mèo mả gà đồng không ra gì. không những vậy sự độc ác của Sùng bà còn thể hiện ở những lời lẽ đay nghiến, bịa chuyện vu oan cho Thị Kính tằng tịu với trai, cho rằng nàng giết ông xã để thuận việc chăng hoa mặc dầu điều đó là không hề có. Bên cạnh đó ta thấy rằng lời lẽ của nhân vật này không tầm thường, chuyên lấy chuyện ví von so sánh để làm câu chữ cho mình ra sức nhiếc móc Thị Kính, khiến Thị Kính không thể minh oan, cũng không thể nào giải thích. Và sau cùng Sùng bà đã đưa vở kịch lên cao trào bằng việc lệnh cho ông xã gọi Mãng ông để trả Thị Kính trở về nhà mẹ với hai tội giết ông xã và lăng loàn.

Những nhân vật phụ khác góp phần làm cho vở chèo thêm sống động và nhiều màu sắc gồm có Thiện Sĩ, nhân vật thư sinh điển hình, là ông xã của Thị Kính, chỉ có thoại trong phần mở đầu. trải qua đó ta có nhận xét rằng đây là một nhân vật có tính cách nhu nhược, thiếu sáng suốt, không tồn tại tiếng nói trong gia đình, rõ ràng đã chung sống với Thị Kính lau thế nhưng vẫn không rõ tính cách của vợ, lại đi cho rằng vợ giết mình. không những vậy khi thấy vợ kêu oan cũng không nảy lòng ngờ mà đánh giá lại sự tình, chỉ một mực im lặng, để cho Sùng bà tự biên tự diễn, sau cùng mặc cho vợ mình bị đuổi ra khỏi nhà. Nhân vật thứ hai đúng là Sùng ông, đây là một người cũng có thể có tính cách giống Thiện Sĩ, nhu nhược, sợ vợ, không tồn tại quyền quyết định, lại tối ngày lơ mơ trong rượu chè cờ bạc, chẳng được tích sự gì, và cũng dễ dàng bị Sùng bà dắt mũi. sau cùng là nhân vật Mãng ông, cha của Thị Kính là một người nông dân tội nghiệp, chân chất, thật thà và nghèo khổ. Tuy nghe Thị Kính bị vu tội giết người, lăng loàn và bị đuổi ra khỏi nhà, thế nhưng nghe con gái kêu oan ông đã tin tưởng và có ý dẫn con về nhà, từ đó rất có thể thấy đây là một nhân vật có tấm lòng thương con vô hạn, dẫu có xảy ra chuyện gì cũng vẫn muốn bảo bọc cho con gái mình.

Như vậy kết lại, Quan m Thị Kính nói chung cũng trích đoạn Nỗi oan hại ông xã nói riêng là vở diễn và trích đoạn chèo rất tiêu biểu trong sân khấu chèo truyền thống, trở thành dấu ấn đặc sắc trong nền văn hóa nghệ thuật dân gian của Việt Nam ta. Nó không những thể hiện được vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ, mà còn là nỗi đau đớn về số phận éo le và bế tắc của họ trong cuộc sống gia đình, trong hôn nhân và trong xã hội phong kiến quá đỗi hà khắc. Đồng thời cũng lên án, phê phán sâu sắc những cái ác, cái oan nghiệt trong xã hội cũ dẫn tới thảm kịch của người phụ nữ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” số 3

Trong những tác phẩm chèo cổ, thì vở “Quan âm Thị Kính” có sức sống khá lớn trong lòng người xem, bởi những nhân vật trong tác phẩm có tính cách cực kì độc đáo. Trong số đó, nhân vật Thị Kính khiến cho người xem cảm thấy xót xa, ám ảnh bởi những nỗi oan quá lớn mà người phụ nữ này phải gánh chịu trong cuộc sống của tớ.

Trích đoạn “Nỗi oan hại ông xã” kể về sự oan ức của Tiểu Kính Tâm khi cô là người phụ nữ yêu ông xã, hiếu thuận với gia đình ông xã nhưng lại bị nghi oan là có thủ đoạn giết hại ông xã, khiến cô đau đớn như muốn chết đi.

Thị Kính là người phúc hậu, đoan trang. Cô hết sức chăm sóc cho gia đình ông xã, một lòng chung thủy trước sau như một làm tròn bổn phận của người vợ, người dâu hiền trong gia đình quán xuyến công việc.

Nhưng rồi một hôm khi ông xã đang ngủ say, Thị Kinh thì ngồi thêu thùa đan áo cho ông xã, nàng ngồi ngắm khuôn mặt ông xã mình và giật mình có một sợi râu mọc ngược trông không mấy thẩm mỹ.

Nghĩ vậy Thị Kính liền lấy kéo để cắt giúp ông xã nhưng không may đúng lúc đó ông xã của Thị Kính tỉnh giấc nhìn thấy vợ cầm kéo định tiến về phía mình cho rằng vợ mình toan giết ông xã .

Nên anh ông xã cực kì tức giận. Mọi hiểu lầm bắt đầu nỗi oan ức của Thị Kính cũng xuất phát từ đây. Nghe thấy con trai kêu thất thần thì ba má ông xã Thị Kính cũng chạy vào, nhìn thấy nàng cầm kéo, rồi lại nghe con trai nói là Thị Kính định giết mình thì lập tức tin lời không cần đối chất.

Mẹ ông xã Thị Kính là người phụ nữ đanh đá, mồm miệng khá hoạt ngôn, bà ta thấy tình hình như vậy liền hô hoán cho người dân xung quanh, hàng xóm láng giềng nghe thấy rồi vu oan cho con dâu tội giết ông xã
Nỗi oan của Thị Kính ông xã chất lên nhau, khiến nàng sống cảnh tủi hổ, bị hắt hủi ghẻ lạnh. ba má ông xã không tin nàng thì đành chịu, bởi ông bà không hiểu chuyện, hơn nữa mẹ ông xã nàng dâu thường có bất hòa trong cuộc sống, hai người phụ nữ khi cùng làm hoàng hậu một gia đình thì thường xảy ra xích míc. Mối quan hệ mẹ ông xã nàng dâu xưa nay vẫn thế.

Nhưng, người ông xã đầu ấp má kề, người ngày ngày cùng chung chăn gối với Thị Kính mà cũng không hiểu thực chất, tâm địa nàng tốt hay xấu, thương ông xã thật lòng hay không thì thật là khó hiểu.

Một người ông xã sống cùng vợ mỗi ngày mà không tin tưởng vợ, không bảo vệ vợ và lại vu oan cho vợ có thủ đoạn giết mình rồi hô hoán ba má khiến mọi chuyện trở thành thảm kịch khó giải quyết hơn rất nhiều khi chỉ có hai người mà thôi.

Xã hội phong kiến là một xã hội trọng nam khinh nữ nên quyền lên tiếng của người phụ nữ có vẻ như chỉ là không mà thôi. Sự oan ức của Thị Kính thật sự là cực kì bi ai, người xem cảm thấy nhân vật ông xã Thị Kính (Thiện Sĩ) có chút tàn nhẫn, vô tâm.

Anh ta là người có học, ngày đêm dùi mài kinh sử nhưng lại không tồn tại trái tim nhân hậu, không tồn tại sự rộng lượng bao dung thấu hiểu tâm sự của người con gái sống bên cạnh mình, thờ ơ với nỗi oan của vợ. Thật sự đáng trách.

Những xích míc của Thị Kính khi bị mẹ ông xã thường kiếm cớ la mắng, bắt nạt đáng ra làm ông xã anh ta phải lên tiếng can ngăn mẹ mình, hoặc hòa giải hai người nhưng anh ta yên lặng để cho mẹ mình hành hạ Thị Kính điều này cho ta thấy anh ta không thương yêu Thị Kính mà chỉ coi cô là người giúp việc trong gia đình thì đúng hơn.

Số phận của Thị Kính thảm kịch không phải từ nỗi oan ghi giết ông xã, mà bắt đầu từ ngày cô được gả cho Thiện Sĩ làm vợ, lấy nhầm ông xã là nỗi oan lớn nhất đời cô chính vì lấy nhầm ông xã mà thảm kịch đời cô liên tiếp xảy ra.

Đoạn trích là một đoạn trích nhiều kịch tính thể hiện sự oan khuất của Thị Kính khi sống trong gia đình ông xã, nỗi oan thấu trời khiến cho cô không thể nói gì mà chỉ biết câm lặng. Số phận của Thị Kính là số phận chung của người phụ nữ xưa.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” số 4

Quan Âm Thị Kính là một tích chèo quen thuộc với đông đảo công chúng độc giả Việt Nam. mẩu truyện xoay quanh cuộc đời Thị Kính, một người con gái đức hạnh nhưng lại trải qua bao nỗi trái ngang. Ngay ở phần đầu vở diễn, chúng ta đã thấy “nhân vật Thị Kính không những chịu khổ vì bị ngờ oan mà còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu sang, tàn ác khinh bỉ”.

Cuộc đời của Thị Kính là cuộc đời của những nỗi oan không tồn tại cách nào giải được. Những oan khiên ấy có lẽ bắt đầu từ cái ngày mà Thị Kính đặt chân về nhà ông xã. Thị Kính là con gái Mãng ông, gia đình cô là một gia đình nông dân nghèo thực sự. Thế nhưng cô lại lấy Thiện Sĩ, con của một gia đình giàu sang trong vùng. Cuộc hôn nhân không “môn đăng hậu đối” ấy có vẻ như là điềm báo trước những nỗi oan khiên và là căn nguyên bắt đầu mọi việc.

Mối oan “hại ông xã” của Thị Kính bắt đầu từ một hành động tình ngay nhưng lý gian. Nàng bị bắt gặp khi đang cầm dao kề lên cổ của ông xã. Dù đã hết mực ra sức biện minh, thế nhưng không một ai trong gia đình của Sùng Ông, Sùng Bà muốn tin rằng: Thị Kính đang dùng đao để cắt Sợi râu mọc của ông xã. mẩu truyện cứ thế được đưa lên khiến Thị Kính bị rơi vào một nỗi oan không sao giải được

Nỗi oan của Thị Kính được kết thành từ sự hiểu lầm cố ý của gia đình Thiện Sĩ, nhất là của Sùng Bà. Thế nhưng ẩn đằng sau cái hình thức ấy, thực sự có một lý do khác lớn hơn. Đọc những lời độc thoại mà Sùng Bà nói với Thị Kính (những quy kết có tính chất một chiều), chúng ta thấy có nhiều câu thể hiện rõ sự phân chia đẳng cấp. Sùng Bà (gắt Sùng Ông):

“… Lấy vợ cho con thì phải kén họ. Tôi đã bảo là phải kén những nơi công hầu kia mà!
Giống phượng giống công
Giống nhà bà đây giống phượng giống công
Còn tuồng bay mèo mả gà đồng lẳng lơ…”

Hoặc:
“Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu đìu lại nở ra dòng liu điu
Này Ị Nhà bà đây cao môn lệnh tộc
Mày là con nhà cua ốc
Cho nên chữ tam tòng mày ăn ở đơn sai”…

Lời của Sùng Bà quả là cực kì độc đoán và cay độc. Nó thể hiện rõ sự tàn ác dã man của những kẻ giàu sang quyền thế. Cái cách mà Sùng Bà đổ tội cho Thị Kính cũng vậy. Nó hoàn toàn chỉ là những phán quyết có tính chất một chiều theo kiểu chủ nhà – con ả ở trong màn ấy Thị Kính cũng bị đẩy từ vị trí một người con dâu xuống thân phận một đứa ở trong nhà. Nàng chỉ biết ngậm đắng cay mà không thể có cách nào cự được.

Sự phân biệt giàu sang – nghèo hèn trong đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” đã biến Sùng Bà thành một vị quan tòa đổ lên đầu Thị Kính bao nhiêu tội trọng. Không những thế đến như nhân vật Sùng Ông (một người suốt ngày say rượu) mà còn bày ra trò lừa bịp: mời Mãng Ông sang ăn cữ cháu để cùng với vợ giày vò nổi đau của hai bố con đứa con dâu. Hành động của Sùng Ông với cha con Thị Kính cũng là một chi tiết quan trọng chứng tỏ sự phân biệt sang hèn giữa hai gia đình là cực kì sâu sắc. Nó như là một điểm nhấn đẩy nỗi oan khiên của Thị Kính càng lúc càng đến chỏ cao hơn.

Như vậy rõ ràng ở đoạn đầu của vở chèo này, nỗi đau của Thị Kính không những là nỗi oan của một cô nàng bị ghép vào tội “giết ông xã”. Nỗi đau ấy còn là nỗi đau câm lặng của thân phận con ong cái kiến. Cái nghèo và sự thấp hèn đã khiến Thị Kính không thể có lời nào để tự minh oan. Nó đẩy Thị Kính đến bên bờ vực và cướp đi toàn bộ cái ước mơ hạnh phúc của người con gái đức hạnh, thủy chung. Nỗi oan của Thị Kính vì thế mà còn tiêu biểu cho bao kiếp người lầm than nhỏ xíu khác trong xã hội phong kiến lỗi thời ngày xưa.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” số 5

Thân phận người phụ nữ luôn là đề tài được những nhà văn, nhà thơ hướng tới cho những tác phẩm của tớ, người phụ nữ được nhắc đến với số phận không mấy đẹp đẽ, phải chịu đựng nhiều áp bức và không được đấu tranh cho quyền lợi của bản thân. Đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” là minh chứng cho điều đó, đoạn trích kể về nhân vật Thị Kính phải mang nỗi oan giết ông xã gây nên nhiều đau khổ và hiểu lầm trong chính gia đình của tớ.

Hiện lên trước mắt người đọc là hình ảnh Thị Kính đoan trang, phúc hậu, nết na, luôn chăm sóc cho gia đình của tớ, một con người chịu thương chịu khó biết cách gây dựng tổ ấm của gia đình. Một hình ảnh một con người với những nét đẹp như thế thường gắn liền với những nốt xấu số khi sống trong xã hội xưa mục nát. Rồi việc gì đến cũng đến, nỗi oan mà Thị Kính vướng phải đúng là từ sợi râu mọc ngược của ông xã mình, từ những việc râu mọc ngược mang ý nghĩa sâu sắc xấu, suy nghĩ cho ông xã, cho gia đình mà định cắt sợi râu đó đi, ai ngờ hành động đó của cô khiến ông xã cô và cả gia đình, đặc biệt là Sùng bà nghi ngờ cô muốn hại ông xã mình. Trong xã hội xưa thì đó là hành động không thể tha thứ, một trong những tội lớn nhất mà xã hội đề ra.

Đối với Thị Kính không thể thanh minh hay giải oan cho bản thân mình bởi lẽ đối với Sùng bà thì cô như là cái gai trong mắt, Sùng bà đã có ác cảm với cô từ rất lâu vậy cho nên nay có thời điểm này Sùng bà có được cái cớ để nhục mạ cô, có những lúc Sùng ông đã lắng nghe những lời nói của cô nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức lắng nghe chứ không dám dùng hành động để căn ngăn, hay dùng lời nói để giải thích giúp cô bởi chính Sùng ông cũng rất sợ Sùng bà. Xã hội xưa là một xã hội “Trọng nam khinh nữ” nhưng đối với Sùng ông thì lại khác, ông không hề có quyền hành gì ở trong nhà cả, toàn bộ mọi thứ đều dưới sự chỉ huy của Sùng bà. Cùng một gia đình như thế nhưng đối với Thị Kính lại đối lập hoàn toàn, cô chịu sự chi phối của ông xã, của gia đình mà không hề có một chút tiếng nói nào trong gia đình, điều này đã làm nổi lên xích míc giữa mẹ ông xã nàng dâu gay gắt cực kì, hơn thế nữa là sự xích míc giữa những giai cấp trong xã hội, nhiều khi thân phận nam hay nữ không mấy quyết định đến số phận của họ, mà phần lớn là giá trị mà con người có được trong xã hội đó. Sự phân cấp giai cấp rõ nét được thể hiện, Sùng bà đại diện cho giai cấp thống trị còn Thị Kính đại diện cho giai cấp bị trị, cùng là thân phận người phụ nữ nhưng mỗi người sống với cùng 1 vai trò không giống nhau, sự áp bức, khinh miệt mà Sùng bà giành riêng cho Thị Kính là minh chứng rõ nhất cho điều đó.

Đối với Thị Kính nỗi oan mà khiến cô đau đớn nhất không phải là nỗi oan giết ông xã, cũng chẳng phải những nỗi oan mà Sùng bà làm nhục cô mà đúng là nỗi oan từ sự thờ ơ lạnh nhạt của ông xã, nỗi oan từ chính người mà cô thương yêu, lo lắng cho nhất, người mà cô dành cả cuộc đời của tớ để nương tựa, dựa dẫm thì đúng là người đưa về sự tủi nhục, oan uất cho cô. Những lời la mắng cay nghiệt của mẹ ông xã, cùng với những đòn roi mà mẹ ông xã đem lại không đau bằng thái độ mà người ông xã mình giành riêng cho mình, sau cùng cái cô nhận được là tan vỡ hạnh phúc gia đình, bị đuổi ra khỏi nhà với nỗi oan cả đời không rửa sạch được.

Đoạn trích đã khắc họa thành công hình ảnh người phụ nữ trong xã hội xưa, không được sống là chính mình, không tồn tại tiếng nói riêng, không được đem lại hạnh phúc cho bản thân, sống dựa vào người khác, mang những nỗi oan, nỗi ấm ức không thể thanh minh do chính xã hội đem lại.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” số 6

Trích đoạn Nỗi oan hại ông xã là phần đầu vở chèo Quan Âm Thị Kính. Màn chèo này có 3 cảnh. Cảnh 1:Thiện Sĩ đọc sách, Thị Kính ngồi khâu áo. Thiện Sĩ thiu thiu ngủ, Thị Kính quạt cho ông xã. Thị Kính cầm dao cắt chiếc râu mọc ngược ở cằm ông xã. Thiện Sĩ chợt tỉnh, túm lấy con dao rồi kêu to lên. Sùng ông và Sùng bà hốt hoảng chạy ra. Cảnh 2:Sùng bà và Sùng ông chửi mắng Thị Kính thậm tệ, vu cho Thị định giết ông xã. Thị Kính khóc lóc và kêu oan. Cảnh 3:Sùng ông đi gọi Mãng ông sang. Mãng ông bị Sùng ông dúi ngã. Thị Kính bị đuổi về cha mẹ đẻ. Hai cha con ôm nhau than khóc. ThịKính cất tiếng than và thổ lộ “quyết tâm trá hình nam tử bước đi tu hành”. Chân trời sớm rạng đông khi Thị Kính bước ra khỏi nhà họ Sùng.

Nhân vật Sùng bà là một vai hề rất sống, rất ghê gớm. Tuy có đủ mặt năm nhân vật, nhưng xung đột chủ yếu thể hiện qua hai nhân vật: Sùng bà và Thị Kính. Trong chèo, Sùng bà thuộc loại nhân vật ác, từ ngôn ngữ đến cử chỉ, hành động của mụ rất tàn nhẫn, độc địa. Mụ mạt sát Thị Kính là “mặt sứa gan lim” định giết con bà. Mụ chửi Thị Kính là tuồng “mèo mả gà đồng” rất “lẳng lờ”. Thị Kính càng vật vã kêu khóc thì mụ càng lồng lên dữ dội, nanh ác. Mụ xỉa xói Thị Kính là “cả gan”, là kẻ hư hỏng “say hoa đắm nguyệt”, “trên dâu dưới Bộc”…, là “gái say trai lập chí giết ông xã”. Mụ đòi “chém bổ băm vằm” Thị Kính. Mụ xỉ vả Thị Kính “mặt gái trơ như mặt thớt”, không biết “tam tòng tứ đức”, không sợ “gươm trời búa nguyệt”.

Sùng bà rất tàn nhẫn và độc ác, mụ quyết tâm đuổi Thị Kính về nhà, như “ngựa bất kham thôi phó về Bồng Bảo”, như “Đồng nát thì về Cầu Nôm- Con gái nỏ mồm thì về ở với cha”. Mụ vênh váo tự hào gia thế bà là cao sang quyền quý, thuộc loại “cao môn lệnh tộc”, “trứng rồng lại nở ra rồng”. Mụ hạ nhục Thị Kính là “con nhà cua ốc”, “liu điu lại nở ra liu điu”. Sùng bà mắng Sùng ông, ông xã bà là kẻ nát rượu, “lúc nào cũng rượu, lúc nào cũng say”, ăn nói thì “lèm bèm lèm bèm…”. Mụ nạt và ra lệnh cho Thiện Sĩ: “Đi! Đi vào!”. Mụ nhắc Thiện Sĩ “vào rửa mặt mà đọc sách” mụ hứa lấy cho con trai mụ “dăm vợ” (mụ có biết đâu cậu quý tử của tớ, tuy theo đòi bút nghiên nhưng chỉ là một kẻ nhu nhược, hồ đồ và đần!). Sùng bà ra lệnh cho Sùng ông đi gọi Mãng ông đến để trả Thị Kính. Mụ tàn nhẫn dúi tay xô ngã Thị Kính khi Thị Kính chạy theo mụ cầu xin.

rất có thể nói, nhân vật Sùng bà được xây dựng rất sống. Ngôn ngữ của mụ độc địa, mụ cũng ví von, cũng sử dụng tục ngữ ca dao, mụ cũng nói chữ, cũng chửi mắng, mạt sát rất thô lỗ tục tằn. Mụ cùng con trai dựng chuyện không đâu vào đâu, rất vu vơ để vu oan cho Thị Kính thủ đoạn hại ông xã, đang tâm và tàn nhẫn đuổi Thị Kính về nhà ba má đẻ. Sùng bà là hiện thân mụ ác, một vai chèo rất sống, một người đàn bà giàu sang, hợm hĩnh, độc ác và tàn nhẫn. Nhân vật Thị Kính là một vai hề đau khổ, đáng thương.

Nhân vật Thị Kính rất đáng để thương. Nhờ có nhan sắc, tuy nhà nghèo mà Thị Kính lấy được ông xã là một nho sinh, con nhà giàu sang. Thị đã hành xử một cách tùy tiện, đơn giản là lấy dao khâu cắt râu ông xã lúc ông xã nằm ngủ, nên đã gây ra thảm kịch “nỗi oan hại ông xã”. Trong trích đoạn, 6 lần Thị Kính khóc lóc, cầu xin. Bốn lần khóc, van lạy Sùng bà: “… Oan cho con lắm mẹ ơi!”, “Mẹ xét tình con, oan con lắm mẹ ơi!”… Thị Kính càng khóc lóc cầu xin càng bị Sùng bà chửi mắng độc địa, dúi cho ngã khuỵu xuống. “Oan này còn một kêu trời, nhưng xa” (Nguyễn Du). Bị vu oan cầm dao hạichồng, bị đuổi về nhà cha mẹ đẻ, đó là nỗi đau khổ, tủi nhục tột đỉnh của Thị Kính, rủa người phụ nữ nghèo hèn trong xã hội cũ. Hình ảnh Mãng ông bị Sùng ông dúi ngã, Thị Kính ôm siết lấy cha, cả hai cha con cùng khóc là hình ảnh đau khổ và thương tâm cho thân phận những kẻ nghèo hèn.

Thị Kính kêu với Thiện Sĩ: “Oan thiếp lắm chàng ơi!”. Nhưng anh ông xã đần nào có động lòng. Nỗi oan của Thị Kính chỉ được người cha cảm thông, san sẻ. Nghe con gái kêu khóc: “Cha ơi! Oan cho con lắm cha ơi!” thì Mãng ông cất lời than: “Con ơi! – Dù oan dù nhẫn chẳng oan – Xa xôi cha biết nỗi con thế nào!”

An ủi con gái, Mãng ông khuyên con đi về nhà, “về cùng cha con ơi!”. Cuối trích đoạn Nỗi oan hại ông xã, Thị Kính cất lời than. Đau khổ về “tiếng mỉa mai” sao tránh khỏi! Trách duyên số, trách hai mẹ con Thiện Sĩ: “Đang tay nỡ bẻ phím đồng làm đôi”. Nàng cầu mong “nhật nguyệt rạng soi” cho nỗi oan, xin lạy cha lạy mẹ, và “quyết tâm trá hình nam tử bước đi tu hành”. Cách hành xử ấy cho thấy Thị Kính đau khổ và bế tắc đến tột đỉnh. Cảnh chân trời chớm rạng đông khi Thị Kính lặng lẽ bước ra khỏi nhà họ Sùng là một cảnh tượng trưng nói lên một quan niệm, một niềm tin thánh thiện của nhân dân ta ngày xưa: con đường tu hành đi tới Phật là con đường sáng… Phải chăng đó cũng là điều mà Nguyễn Du đã nói tới trong Truyện Kiều: “Tu là cõi phúc, tình là dây oan”?

Nỗi oan hại ông xã là tiếng kêu thương, đau khổ của người phụ nữ nghèo hèn trong xã hội cũ. Bị vu oan, vùi dập, bị xua đuổi, sống trong đau khổ. bế tắc. Trích đoạn chèo đầy nước mắt và tiếng kêu thương, giàu tình cảm nhân đạo. Xung đột kịch, tâm trạng và hành động nhân vật còn sơ lược, vẫn chưa sâu sắc. Đó cũng là hạn chế của chèo cổ dân tộc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 6 Bài văn phân tích đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” trong vở chèo “Quan âm Thị Kính”, Top 6 Bài văn phân tích đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” trong vở chèo “Quan âm Thị Kính”, Top 6 Bài văn phân tích đoạn trích “Nỗi oan hại ông xã” trong vở chèo “Quan âm Thị Kính”

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *