Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải

05-02-2021 10 339 0 0

Báo lỗi

Trần Quang Khải (1241 – 1294), con trai thứ ba của vua Trần Thái Tông. Ông là một võ tướng kiệt xuất, được phong Thượng tướng, có công rất lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên (1284-1285; 1287-1288), đặc biệt là trong hai trận thắng lợi ở Hàm Tử và Chương Dương đồng thời ông còn là người có nhiều vần thơ “sâu lí xa thú” (Phan Huy Chú). Bài thơ “Phò giá về kinh” được làm khi Trần Quang Khải đi đón Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông về Thăng Long (Thủ Đô Hà Nội ngày nay) ngay sau thắng lợi Chương Dương, Hàm Tử và giải phóng kinh đô năm 1285 thể hiện hào khí thắng lợi và khát vọng thái bình, thịnh trị của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần. Mời những bạn xem thêm một số bài văn phân tích tác phẩm đã được Toplist tổng hợp trong bài viết dưới đây.

12345678910

1


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” số 1

Phò giá về kinh là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Trần Quang Khải, đứng trong hàng ngũ những bài thơ yêu nước xuất sắc nhất của văn học Việt Nam. Bài thơ vừa thể hiện âm hưởng thắng lợi hào hùng vừa cho thấy tầm nhìn xa trông rộng về đường hướng phát triển vương quốc của tác giả.

Bài thơ làm ngay sau khi quân ta giành thắng lợi, lúc đó Trần Quang Khải đi đón và hộ giá Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông trở về kinh thành Thăng Long. Bởi vậy bài thơ phát hành trong âm vang thắng lợi hào hùng của thắng lợi Chương Dương, Hàm Tử do đích thân Trần Quang Khải chỉ huy chiến đấu.

Hai câu thơ đầu là cảm hứng tự hào trước những chiến công của thời đại, mang tính thời sự nóng hổi: Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù. Câu thơ ngắn gọn, chỉ có năm chữ mà chắc nịch ý tứ và thú vui. Câu thơ như dồn nén sức mạnh và sự thần tốc, chớp nhoáng của những chiến công. những động từ mạnh mẽ, dứt khoát: đoạt, cầm mang phong thái của một vị tướng. Đồng thời còn diễn tả được không khí sục sôi của những sự kiện lịch sử có ý nghĩa sâu sắc xoay chuyển cục diện chiến trường.

Chương Dương là trận đấu mở màn nhưng lại có ý nghĩa sâu sắc quyết định đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai. Câu thơ vang lên thật hào sảng, hân hoan thú vui. Đầu mỗi câu thơ gắn với hai địa danh: Chương Dương, Hàm Tử đây là những địa danh chói lọi gắn liền với những chiến công lịch sử của dân tộc, nó cũng trở thành hình tượng cho thắng lợi huy hoàng. Nhắc lại hai địa danh đó càng làm thú vui, niềm tự hào được nhân lên hơn nữa. Ngoài ra tác giả còn sử dụng từ ngữ mang sắc thái biểu cảm: chữ Hồ thường được người phương Bắc dùng để gọi những dân tộc thiểu số phía Tây và tây-bắc Trung Quốc. Bởi vậy khi sử dụng chữ này với quân xâm lược Mông – Nguyên tác giả thể hiện sự khinh bỉ.

Vui với thú vui thắng lợi, nhưng đằng sau đó ta vẫn thấy một Trần Quang Khải có tầm nhìn xa trông rộng, hết sức quan tâm đến vận mệnh vương quốc. Hai câu thơ trên lướt nhanh qua những dòng sự kiện để rồi đọng lại những suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc: Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu. Hai câu thơ cho thấy cho thấy suy nghĩ, tầm nhìn của một vị thủ lĩnh, trong thú vui chung của vương quốc, ông không bị cuốn đi, không an lạc trong thắng lợi mà vẫn nêu lên nhiệm vụ sau khi giành được độc lập.

Ông nêu lên trách nhiệm dẫu thái bình vẫn phải dốc hết sức lực để xây dựng, phát triển vương quốc, có như vậy sông núi nước Nam mới bền vững muôn thuở. Hai câu thơ cuối vừa là chân lí vừa là kinh nghiệm được đúc rút từ thực tiễn chiến đấu lâu dài của dân tộc. Cũng chính bởi lời dặn dò ấy, mà nhân dân ta đã tiếp tục đánh thắng sự xâm lược của quân Mông – Nguyên lần tiếp theo, cũng bởi thế mà vận mệnh vương quốc lâu bền, thịnh trị, nhân dân được sống trong cảnh yên ấm, hạnh phúc. Câu thơ đã thể hiện tầm nhìn của một con người có hiểu biết sâu rộng, cái nhìn sáng suốt, chiến lược trong tương lai.

Bài thơ sử dụng thể thơ ngũ ngôn với số câu chữ ít ỏi, nhưng cực kì hàm súc. Số câu chữ ít ỏi những đã khái quát đầy đủ sự kiện lớn của dân tộc và nêu lên chân lí lớn của thời đại. Kết cấu thơ chặt chẽ, ngôn từ chọn lọc, nhịp thơ ngắn gọn, phối hợp giữa biểu ý và biểu cảm. Vừa đưa ra những sự kiện lịch sử chính vừa thể hiện thú vui, sự hân hoan trước thắng lợi và những suy tư, chiêm nghiêm sau khi vương quốc đánh bại quân xâm lược.

Bài thơ với ngôn ngữ chọn lọc, cô đọng giàu sức biểu cảm đã cho thấy hào khí thắng lợi và khát vọng thái bình thịnh trịnh của nhân dân đời Trần. Đồng thời khẳng định chân lí vừa mang ý nghĩa sâu sắc thời sự vừa mang ý nghĩa sâu sắc lịch sử: “Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu”.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” số 2

Trần Quang Khải (1241 – 1294) là con thứ ba của vua Trần Thánh Tông. Ông được phong chức thượng tướng vì có công rất lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông (1284 – 1287) và là một trong những anh hùng đã đem tài thao lược làm nên chiến công Chương Dương, Hàm Tử lừng lẫy muôn đời. Trần Quang Khải không chỉ là là một võ tướng kiệt xuất mà còn là một thi sĩ tài hoa.

Bài thơ Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) được sáng tác trong hoàn cảnh thượng tướng cùng đoàn tùy tùng đi đón hai vua Trần (vua cha Trần Thánh Tông và vua con Trần Nhân Tông) về Thăng Long sau khi kinh đô được giải phóng. Hình thức bài thơ tuy ngắn gọn, cô đúc nhưng đã thể hiện được hào khí thắng lợi và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần. Tác giả đã ghi lại hai chiến công vang dội của quân và dân Đại Việt vào xuân – hè năm Ất Dậu 1285.

Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
(Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân thù.)

Chương Dương là bến sông nằm ở phía hữu ngạn sông Hồng, thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (cũ), nay là Thủ Đô Hà Nội. thắng lợi Chương Dương ra mắt vào tháng 6 năm Ất Dậu (1285) do Trần Quang Khải trực tiếp chỉ huy. Hàm Tử là địa danh ở tả ngạn sông Hồng, thuộc huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. thắng lợi Hàm Tử vào tháng bốn cùng năm do tướng Trần Nhật Duật lãnh đạo cùng với sự hỗ trợ đắc lực của Trần Quang Khải.

Đây là những trận thủy chiến dữ dội nổ ra trên chiến tuyến sông Hồng. Trận Hàm Tử ra mắt vào tháng bốn, tướng Trần Nhật Duật chém được Toa Đô. Hai tháng sau, Trần Quang Khải đại thắng giặc Nguyên – Mông tại Chương Dương. Hàng vạn tên lính xâm lược bị tiêu diệt, hoặc bị bắt làm tù binh. Quân ta sở hữu được nhiều chiến thuyền, vũ khí và lương thảo của giặc.

Hai cụm từ: Đoạt sáo (cướp giáo) và Cầm Hồ (bắt giặc) được đặt ở đầu mỗi câu thơ giống như những nốt nhấn trong khúc ca đại thắng. Giọng thơ sảng khoái, hào hùng, phản ánh khí thế bừng bừng của dân tộc ta thời ấy. Từ vua quan, tướng sĩ đến dân chúng ai cũng hả hê, sung sướng, tự hào.

Hai câu thơ ngũ ngôn tứ tuyệt với nhịp thơ nhanh, gấp và những động từ biểu thị động tác mạnh mẽ, dứt khoát (đoạt: cướp lấy; cầm: bắt) thể hiện nhịp độ dồn dập, sôi động, quyết liệt của chiến trận. Tác giả không nói nhiều về những chiến công và cũng không tỏ ra say sưa với thắng lợi nhưng ta vẫn hoàn toàn có thể cảm nhận được niềm phấn khởi, kiêu hãnh vô bờ toát lên từ âm hưởng của bài thơ.

Mùa hè năm Ất Dậu là một mốc son trọng đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Hiện thực sôi động đã truyền cảm hứng vào những vần thơ hùng tráng khiến bài thơ mang đậm phong vị anh hùng ca. Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp liệt kê và phép đối để làm nổi trội hai sự kiện lịch sử mang tầm chiến lược. thắng lợi Chương Dương ra mắt sau nhưng lại được nói về trước là do nhà thơ đang sống trong không khí hào hùng của thắng lợi Chương Dương vừa ra mắt. Kế đó, nhà thơ làm sống lại không khí sôi động của thắng lợi Hàm Tử trước đó vẫn chưa lâu.

Hai chiến công Chương Dương độ và Hàm Tử quan đã làm thay đổi cục diện thế trận của quân ta. Từ chỗ rút lui theo chiến lược, quân ta đã tiến lên phản công như vũ bão. Mới ngày nào, 50 vạn quân Nguyên do tướng Thoát Hoan cầm đầu ồ ạt sang cướp phá VN. Kinh thành Thăng Long chìm trong khói lửa ngút trời. Hai mũi tiến công của giặc từ Nam Quan đánh xuống, từ Chiêm Thành đánh ra, kẹp lại như hai gọng kìm sắt. Vận nước lúc đó như “chỉ mành treo chuông” nhưng với tài thao lược của những vị danh tướng, quân ta đã lấy đoản binh chế trường trận, lấy yếu đánh mạnh. Với thắng lợi Chương Dương và Hàm Tử, quân ta đã giáng sấm sét xuống đầu lũ giặc phương Bắc hung hăng, ngạo mạn. Kinh thành Thăng Long được giải phóng. Quân xâm lược đã bị quét sạch ra khỏi bờ cõi VN.

Trần Quang Khải là nhà thơ thứ nhất đã đưa địa danh sông núi Đại Việt thân yêu vào thơ ca. Cái tên Chương Dương và Hàm Tử đã in đậm vào lịch sử chống ngoại xâm, vào lịch sử văn chương như một dấu son chói lọi. Phải là người trong cuộc, tha thiết yêu non sông gấm vóc của vương quốc mình, Trần Quang Khải mới viết được những câu thơ hào hùng đến thế! Hai câu thơ sau:

Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.

(Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.)

Đây là lời vị thượng tướng động viên dân chúng hãy bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng, phát triển vương quốc trong hòa bình và tin tưởng sắt đá vào sự bền vững muôn đời của Tổ quốc. Danh tướng Trần Quang Khải vừa từ chiến trường trở về, áo bào còn vương khói súng, vẫn chưa kịp nghỉ ngơi đã lo ngay đến nhiệm vụ trước mắt cũng như kế sách lâu dài cho vương quốc, dân tộc. Ông nhấn mạnh: Trong thời bình, mọi người cần phải dốc hết sức lực để xây dựng non sông. Nước mạnh, dân giàu thì mới đánh tan được tham vọng ngông cuồng của giặc ngoại xâm, đồng thời chủ quyền độc lập mới được giữ gìn lâu dài. Điều đó chứng tỏ Trần quang Khải vừa là một chiến tướng, vừa là một vị đại thần tài năng kinh bang tế thế, luôn đặt trách nhiệm với dân, với nước lên hàng đầu.

Ngôn ngữ bài thơ Phò giá về kinh rất giản dị nhưng ý tưởng phát minh chứa đựng bên trong thật lớn lao. Khi Tổ quốc đứng trước họa xâm lăng thì vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, toàn quốc góp sức (Trần Quốc Tuấn). Trong hòa bình, từ vua quan đến tướng sĩ, từ vương hầu đến chúng dân, ai cũng phải tu trí lực để vương quốc Đại Việt được trường tồn. Câu thơ hàm chứa một tư tưởng vĩ đại, cho thấy tầm nhìn xa rộng và sáng suốt của Trần Quang Khải.

Tuy bài thơ phát hành cách đây gần tám trăm năm nhưng cho tới nay ý nghĩa sâu sắc của nó vẫn tồn tại đấy nguyên vẹn. Bài học rút ra từ bài thơ là nếu chúng ta không chăm sóc xây dựng vương quốc hùng mạnh, dân trí mở mang thì làm sao chống lại được ý đồ xâm lược, đồng hóa của những quyền lực phản động quốc tế đang rình rập, nhòm ngó vương quốc ta?!

tương tự như bài Sông núi nước Nam, bài thơ Phò giá về kinh cũng thể hiện lòng yêu nước theo kiểu mộc mạc, tự nhiên nhưng mạnh mẽ, hào hùng. Hai bài thơ đều phản ánh bản lĩnh vững vàng, khí phách hiên ngang của dân tộc ta. Một bài nêu cao chủ quyền độc lập thiêng liêng, khẳng định nước Nam là của vua Nam, không kẻ nào được phép xâm phạm, nếu cố tình xâm phạm tất sẽ chuốc lấy bại vong. Một bài thể hiện khí thế hào hùng và bày tỏ khát vọng xây dựng, phát triển vương quốc trong hòa bình với niềm tin vương quốc sẽ bền vững nghìn thu.

Bài Phò giá về kinh của Trần Quang Khải là một kiệt tác trong thơ văn cổ. Ý thơ hàm súc, cô đọng; ngôn ngữ thơ giản dị, gợi cảm. Bài thơ thể hiện niềm tự hào to lớn về sức mạnh thắng lợi của dân tộc ta và làm sống lại những năm tháng hào hùng đánh đuổi quân xâm lược Nguyên – Mông. Đồng thời nó nhắc nhở mỗi người Việt Nam phải ghi nhận nâng cao ý thức trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ và xây dựng vương quốc thanh thản, giàu đẹp, bền vững muôn đời.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” số 3

Trần Quang Khải (1241-1294) vừa là một võ tướng kiệt xuất của nhà Trần, ông là người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, đặc biệt trong hai trận chiến lớn ở Hàm Tử và Chương Dương. không chỉ là vậy ông còn là một thi sĩ nổi tiếng với rất nhiều những tác phẩm có giá trị Trong số đó không thể không kể tới bài thơ “Phò giá về kinh”. Đây là tác phẩm tiếp nối mạch nguồn cảm hứng yêu nước của thời đại nhà Trần, thể hiện hào khí thắng lợi và khát vọng về một vương quốc thái bình thịnh trị của dân tộc.

Sau thắng lợi Chương Dương và Hàm Tử, kinh đô Thăng Long được giải phóng, Trần Quang Khải đích thân đi đón Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông hồi kinh, bài thơ “phò giá về kinh” được viết trong hoàn cảnh ấy. Trong không khí thắng lợi hào hùng ấy, bài thơ cất lên như một bản anh hùng ca của vương quốc. Hai câu thơ đầu, tác giả gợi lại hai trận chiến oanh liệt hào hùng của dân tộc ta với âm vang tự hào:

“Đoạt sáo Chương Dương độ

Cầm hồ Hàm Tử quan”

Chương Dương và Hàm Tử là hai địa danh nổi tiếng gắn với hai trận đánh lịch sử của dân tộc được tác giả trực tiếp nhắc tới trong câu thơ. Đối với quân dân nhà Trần, chỉ việc nhắc tới hai chiến công vang dội có tính chất quyết định thành bại ấy cũng đủ để cất lên âm điệu tự hào, ngợi ca. Tác giả không mô tả diễn biến trận chiến, cũng không diễn tả cảnh binh đao trận lửa mà chỉ kể lại bằng phương pháp liệt kê nhưng như thế cũng đủ để ta hình dung được không khí trận mạc cùng tính chất gay go, căng thẳng của trận chiến.

Đặc biệt để nói về thắng lợi, nhà thơ chỉ sử dụng hai cụm động từ “đoạt sáo, cầm hồ” với sức gợi mạnh mẽ, khẳng định quân ta luôn trong thế chủ động, tự tin, lấn át và thắng lợi mọi tên thù xâm lược cho dù chúng là ai. Trong phần dịch nghĩa, tác giả sử dụng từ dùng từ “cướp” để dịch thoát nghĩa cho từ “đoạt” trong phiên âm, tuy nhiên nó đã làm mất đi sắc thái ý nghĩa sâu sắc của hành động. “Cướp” thiên về sự phi nghĩa, trái với đạo lí, dùng sức mạnh để chiếm đoạt của người khác, nó đã làm mất đi sự hào hùng vốn có của hành động “đoạt” là tư thế chủ động, tự tin của phe chính nghĩa tước đoạt dã tâm xâm lược của kẻ thù. Với giọng điệu hào hùng, sôi nổi kể lại những chiến công oanh liệt, hào hùng cùng của dân tộc cùng hào khí chiến đấu, thắng lợi vẻ vang của quân và dân nhà Trần, hai câu thơ đầu đã cho thấy thú vui sướng, hạnh phúc và đầy tự hào của nhà thơ, đồng thời đó cũng là sự biểu lộ cụ thể của tình yêu vương quốc.

Không ngủ quên trong thắng lợi, càng sung sướng, tự hào về chiến công bao nhiêu thì quân và dân nhà Trần càng quyết tâm để giữ gìn sự hòa bình, thịnh trị của dân tộc bấy nhiêu. Với giọng điệu dứt khoát, đầy tự tin Trần Quang Khải đã lên tiếng để nói về khát vọng ấy.

“Thái bình tu chí lực

Vạn cổ thử giang san”

Đến hai câu thơ này, giọng điệu trở thành trầm lắng, thú vui, niềm hân hoan, hạnh phúc Hình như tạm lắng lại, thay vào đó là phút suy tư sâu lắng về vận nước. Triều đại vừa trải qua cơn phong ba bởi nạn giặc xâm lược, vương quốc còn bao điều bộn bề lo toan, thân làm chủ tướng, Trần Quang Khải làm sao không suy nghĩ, lắng lo cho được. Trong câu thơ, tác giả đã nhấn mạnh có thái bình rồi nên phải gắng sức dựng xây thì non nước mới được thịnh trị muôn đời. Câu thơ cho thấy tầm nhìn xa trông rộng của một vị chủ tướng tài ba. Đó vừa là lời hứa quyết tâm cùng chung tay góp sức xây dựng vương quốc, cũng vừa là lời nhắc nhở con cháu đời sau về trách nhiệm và nghĩa vụ của tớ đối với vương quốc, dân tộc. Hai câu thơ khiến ta trân trọng, kính phục và cảm động biết bao trước tấm tấm lòng yêu nước thương dân và tài năng thao lược tài ba của người con tài giỏi nhà Trần.

Với thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt ngắn gọn mà dồn nén cảm xúc, “phò giá về kinh” của Trần Quốc Tuấn vừa ngợi ca thắng lợi hào hùng của dân tộc, vừa thể hiện niềm tin sắt đá vào sự bền vững muôn đời của vương quốc. Bài thơ được xem là bản hùng ca hòa trong dàn đồng ca yêu nước của dân tộc cùng với những tác phẩm như Nam Quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình ngô đại cáo,…Những khúc ca ấy đã khơi gợi trong những chúng ta tình yêu vương quốc và ý thức bảo vệ, xây dưng, giữ gìn vương quốc trong những người.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” số 4

Trận chiến Mông-Nguyên thắng lợi, quân dân vương quốc mừng rỡ trước chiến công hiển hách của tớ. Sức mạnh của quân giặc cũng phải chịu đầu hàng trước khí thế dùng mạnh và tinh thần quật cường chiến đấu của quân ta. Nỗi xúc động và niềm tự hào khôn nguôi còn mãi trong trái tim mỗi người lúc ấy. trước sự việc kiện ấy, Trần Quang Khải đã viết nên những vần thơ thép, hùng hồn “Phò giá về kinh”:

“Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm tử bắt quân thù

Thái bình tu trí lực

Non nước ấy ngàn thu”

Hai câu đầu tác giả đã tái hiện lại những chiến công hào hùng của quân đội nhà Trần. Bằng nghệ thuật đảo ngữ, hai nơi ra mắt trận đánh được nhấn mạnh thể hiện rõ niềm tự hào lớn lao của tác giả. Những động từ mạnh phối hợp với danh từ như “cướp giáo”, “bắt quân thù” cho thấy sự chủ động và sức mạnh của quân ta trên mọi trận chiến. Trận Chương Dương tuy ra mắt sau nhưng được liệt kê trước như một sự sắp đặt có ý đồ của tác giả. Đang sống trong niềm hứng khởi của chiến nhưng vẫn không quên những ngày hào hùng, sung sướng trong thắng lợi năm xưa. Hào khí chiến đấu mạnh mẽ tiêu biểu cho hào khí của một thời đại- hào khí Đông A. Lời thơ hùng hồn, tự hào, ta như hình dung được trước mắt mình khung cảnh chiến đấu nơi trận chiến oanh liệt ấy.

” Thái bình tu trí lực

Non nước ấy ngàn thu”

Sau khi đánh đuổi quân giặc, nhân dân được tự do, yên ấm. Song, để có được hoà bình ấy phải đánh đổi bao máu và nước mắt, bao người phải hy sinh thân mình nơi chiến trận, bởi vậy mà cần phải ý thức được công cuộc bảo vệ và dựng xây vương quốc. Không nên ngủ quên trên thắng lợi, hãy gắng sức mình, rèn luyện quân đội, xây dựng lực lượng vững mạnh, trí và lực cùng nhau cộng tác để gây dựng cơ đồ, vương quốc mới được thái bình, thịnh trị: “Non nước ấy ngàn thu”.

Đó là trách nhiệm của mỗi người và cũng là lời gửi gắm của vị tướng sĩ tới muôn dân, muôn người lúc bấy giờ và cả những thế hệ sau. vương quốc muôn ngàn năm tồn tại vững bền phải là sự hợp lực, quyết tâm cao độ, gắng sức kiên trì. Hai câu thơ cuối thể hiện trí tuệ anh minh và tầm nhìn chiến lược của người anh hùng yêu nước. Yêu nước không chỉ là có đấu tranh, yêu nước còn cần phải xây dựng phát triển nước nhà ngày một giàu mạnh hơn để nhân dân ngàn năm mãi được sống trong hoà bình, tự do. Vận mệnh vương quốc luôn nằm trong tay ta, do ta quyết định, được hay mất, tồn tại hay không tồn tại đều từ sự nỗ lực, ý thức của nhân dân.

Bài thơ ngũ ngôn cực kì cô đọng, hàm súc, lời ít ý nhiều tạo ra ấn tượng mạnh. Những chiêm nghiệm được đưa ra sau những thắng lợi lẫy lừng của dân tộc như một sự đúc rút thực tiễn đầy khách quan, từ đó, tạo niềm tin và thúc giục mọi người hành động, quyết tâm cao.

Đọc bài thơ , em thấy mình thật may mắn khi được sống trong hoà bình hôm nay, những mong ước, nhắn nhủ của người anh hùng Trần Quang Khải đang ngày được thế hệ sau tiếp thu, nêu cao tinh thần quyết tâm triển khai. Em thầm hứa sẽ cố gắng học thật giỏi, luyện sức, luyện tài, trau dồi đạo đức thật tốt để sau này hoàn toàn có thể góp sức thật nhiều cho vương quốc thân yêu.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” số 5

Trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên xâm lược đời Trần, Thượng tướng Trần Quang Khải đã lập được nhiều chiến công to lớn. Sau thắng lợi Hàm Tử, rồi thắng lợi Chương Dương năm 1285, trong ngày vui vương quốc được giải phóng, Trần Quang Khải vinh hạnh đón nhà vua về kinh đô. Trên đường đi, ông đã hứng khởi sáng tác bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư. Bài thư nguyên văn bằng chữ Hán, theo thể Đường luật ngũ ngôn tứ tuyệt, toàn bài bốn câu, mỗi câu năm tiếng tuyệt hay. Tuy tác phẩm thuộc loại biểu ý là chính, nhưng đằng sau những ý tưởng phát minh lớn lao vẫn dạt dào biết bao cảm xúc sâu lắng. Đây là khúc khải hoàn dầu tiên của dân tộc ta trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.

Trước thời đại nhà Trần, dân tộc ta từng đã nhiều lần đánh tan bọn giặc ngoại xâm. Nhưng sau những chiến công ấy, chúng ta vẫn chưa được đọc, được nghe một tác phẩm văn chương nào viết về thắng lợi, hoan ca khúc khải hoàn. Do đó, bài thơ Phò giá về kinh của vị thượng tướng – thi sĩ không những có tính lịch sử mà còn có giá trị văn chương. Chúng ta hãy đọc nguyên tác bài thơ phiên âm chữ Hán:

Đoạt sáo Chương Dương độ,

Cầm Hồ Hàm Tử quan.

Thái bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang san.

Và đọc bản dịch thơ của Trần Trọng Kim:

Chương Dương cướp giáo giặc,

Hàm Tử bắt quân thù.

Thái bình nên gắng sức,

Non nước ấy ngàn thu.

Bố cục tác phẩm gồm hai phần khá mạch lạc. Hào khí thắng lợi được thể hiện ở hai câu đầu:

Chương Dương cướp giáo giặc,

Hàm Tử bắt quân thù.

Tìm hiểu lịch sử, biết rằng trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên đời Trần, quân dân ta đã giành nhiều thắng lợi trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất là thắng lợi trên sông Bạch Đằng. Nhưng Trần Quang Khải chỉ nói tới hai thắng lợi ở Chương Dương và Hàm Tử. Tại sao? Phải chăng đây là hai chiến dịch tiêu biểu, có tính quyết định dể giành thắng lợi sau cuối? Phải chăng nhờ hai thắng lợi này, xa giá nhà vua và cả triều đình sau thời gian sơ tán, tạm lánh về nông thôn, được trở về kinh đô, vui lắm, phấn khởi lắm, đáng làm thơ, đáng ca hát lắm? Trong trong thực tiễn, thắng lợi Hàm Tử ra mắt trước (tháng bốn năm 1285), thắng lợi Chương Dương sau (tháng 6 năm 1285).

Tại sao tác giả nêu Chương Dương trước, sau đó là Hàm Tử? Đây cũng là câu hỏi thú vị. Tìm hiểu lịch sử, ta biết rằng, ở thắng lợi trước – Hàm Tử – người chỉ huy là tướng Trần Nhật Duật, còn Trần Quang Khải chỉ tham gia hỗ trợ. Còn tại Chương Dương, Thượng tướng Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó đón nhà vua về kinh. thú vui thắng lợi, đi liền thú vui được “phò giá” dồn dập nối tiếp nhau lay động trí tuệ và tâm hồn.

Có lẽ vì thế trong phút ngẫu hứng, vị thượng tướng đã nhắc ngay tới Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch Chương Dương và Hàm Tử, quân dân ta đã chiến đấu cực kì dùng cảm, khí thế trận mạc cực kì sôi động, thành tích chiến đấu cực kì phong phú,… Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn, mười âm tiết. Ở mỗi thắng lợi, cũng đúc lại bằng hai từ: “đoạt sáo” (cướp giáo), “cầm Hồ” (bắt quân Hồ). Cần để ý câu thơ nguyên tác “đoạt sáo”. “Đoạt” nghĩa gốc là “lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác”.

Như vậy, dùng từ “đoạt sáo”, nhà thơ vừa ghi chiến công vừa ngợi ca hành động chính nghĩa và dũng cảm của quân dân ta. Bản dịch dùng từ “cướp giáo” làm giảm phần nào vẻ đẹp của thắng lợi. Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí quân giặc. Còn ở Hàm Tử, ta bắt được quân tướng của chúng. Mỗi chiến dịch một thành tích không giống nhau, bổ sung cho nhau, thật hài hoà, toàn diện. Trong chiến trận, chắc có thương vong, quân giặc chắc bị ta tiêu diệt, giết chết, đuổi chạy khá nhiều.

Nhưng lời thơ không nói tới cảnh máu chảy, đầu rơi, mà chỉ nhắc hai hành động “đoạt sáo”, “cầm Hồ”. Cách nói ấy nhẹ mà sâu, biểu lộ rõ mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là chém giết mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải quy thuận, trả lại non sông, vương quốc cho ta. Câu thơ dồn nén, biểu ý rắn khoẻ. Nhưng nhịp thơ, âm điệu vẫn toát ra thú vui, niềm tự hào phơi phới. Đọc thơ, ta có cảm giác vị thượng tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vừa đi giữa đoàn quân thắng lợi vừa sang sảng cất tiếng ngâm thơ. Tiếng ngâm lan truyền và được ba quân nối tiếp, trở thành khúc ca hào hùng vang động núi sông. Đúng là khúc khải hoàn ca. Xuống hai câu dưới, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ suy nghĩ về tương lai vương quốc:

Thái bình nên gắng sức,

Non nước ấy ngàn thu.

Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng về ngày mai của vương quốc, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng, của một người trở thành ý nghĩ, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao trách nhiệm, cố gắng “tu trí lực”, tức là rèn luyện, tu dưỡng tài năng, sức lực. Đồng thời ông động viên quân dân “gắng sức, đồng lòng” phát huy thành quả thắng lợi để xây dựng vương quốc thanh thản bền vững lâu dài. Câu thơ kết “Vạn cổ thử giang san” vừa chỉ ra cái đích đi tới của vương quốc vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ biểu cảm. Lời răn dạy hài hoà với niềm tin, niềm mong muốn.

Ba năm sau khi bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư phát hành, vào tháng bốn năm 1288, trong buổi tế thần tại Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông), đức vua Trần Nhân Tông đã ngẫu hứng đọc hai câu thơ:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,

Non sông nghìn thuở vững âu vàng)

Phải chăng hai câu thơ trên của nhà vua đã đồng vọng với bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Thượng tướng Trần Quang Khải? Và phải chăng đấy cũng đúng là hào khí của cả dân tộc ta thời đại nhà Trần, mà sau này người đời gọi là Hào khí Đông A? Hào khí Đông A tức là thế nào? Đông A là chiết tự tên họ Trần, gồm hai chữ: chữ Đông ghép với chữ A trong Hán tự. Hào khí Đông A là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, là khí thế, quyết tâm lớn lao của quân dân đời Trần trong sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng vương quốc thanh thản, bền vững. Hào khí Đông A không chỉ là là tư tưởng, tâm hồn của con người mà còn là nội dung tư tưởng, là âm hưởng bao trùm trong rất nhiều tác phẩm thơ văn Việt Nam thời nhà Trần, thế kỉ XII, XIII.

quay về với bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải, ta thấy bài thơ thật ngắn gọn, hàm súc, biểu ý sâu sắc, biểu cảm dạt dào. Trong bài thơ có nhiều từ Hán Việt, nhưng khá quen thuộc với chúng ta ngày nay, như: “Chương Dương độ, Hàm Tử quan, thái bình, trí lực, vạn cổ, giang sơn”. Do đó, đọc thơ, chịu khó tìm tòi, suy ngẫm, chúng ta hiểu được và rung cảm được với ý thơ, hồn thơ của tác giả – người sống cách chúng ta gần một ngàn năm. Nếu ta gọi bài thơ Sông núi nước Nam là bản Tuyên ngôn độc lập thứ nhất, thì cũng hoàn toàn có thể coi Phò giá về kinh là khúc khải hoàn ca thứ nhất trong lịch sử chống ngoại xâm và trong lịch sử văn học Việt Nam. Bằng hình thức diễn đạt cô đúc, dồn nén cảm xúc vào bên trong ý tưởng phát minh, bài thơ Phò giá về kinh đã thể hiện hào khí thắng lợi và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” số 6

Trong suốt chiều dài lịch sử của vương quốc ta, ghi dấu ấn lại bằng những thắng lợi oanh liệt trước giặc xâm lăng, trong số đó phải kể tới thắng lợi vang dội khiến giặc ngoại xâm phải khiếp sợ đó đúng là cuộc khánh chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ hai. “Phò giá về kinh” được Trần Quang Khải sáng tác khi mà quân và dân đã giành thắng lợi vang dội, vua và dân nhà Trần quay về trở về kinh đô Thăng Long. Đây được coi là bài ca khải hoàn ca đầy lẫy lừng của dân tộc ta. Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, bằng chữ hán:

“Đoạt sáo Chương Dương độ,

Cầm Hồ Hàm Tử quan.

Thái bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang san.”

Mở đâu bài thơ là hai câu thơ nhắc đến 2 thắng lợi lịch sử lưu lại ấn quan trọng trong việc phá tan giặc Nguyên Mông đó là thắng lợi tại Chương Dương và Hàm Tử năm 1285:

“Đoạt sáo Chương Dương độ,

Cầm Hồ Hàm Tử quan.”

Hai câu thơ hoàn toàn có thể được dịch như sau:

“Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân thù ”.

Chương Dương và Hàm tử đúng là hai địa danh thuộc tả và hữu của con sông Hồng. Dưới sự chỉ huy của vị tướng tài ba Trần Quang Khải quân và dân ta đã dành thắng lợi vẻ vang tại hai phòng tuyến quan trọng này. Hai câu thơ tùy rằng không nhắc đến sự khốc liệt của trận chiến, đến binh đau đến máu chảy nhưng hai động từ “đạo sáo” và “cầm hồ” đã thể hiện được ý chí chiến đấu cực kì ngoan cường của quân và dân ta. Lời thơ như đưa ta vào giữa trận chiến tranh, được đứng giữa cái cảm giác nâng nâng của sự thắng lợi, thắng lợi đã vang động cả đất trời.

“Thái bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang san.”

Tương lai của vương quốc được Trần Quang Khải suy ngẫm và nhắn nhủ đến toàn thể dân tộc

“Thái bình nên gắng sức

Non nước ấy ngàn thu”.

Đây là lời nhắn nhủ của vị tướng tài ba kiệt xuất về tương lai của đất Việt, nền thái bình là toàn bộ mọi người từ già trẻ lớn bé, gái trai từ vua đến quân, dân đều phải tự ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ nền thái bình đó “tu trí lực”,muốn như thế mỗi con người chúng ta cần tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, tài năng góp sức cho vương quốc. tinh thần đoàn kết đúng là sức mạnh vượt qua mọi khó khăn thử thách.

Câu kết “Vạn cổ thử giang san” đúng là sự nhấn mạnh của Trần Quang Khải kết quả của sự cố gắng dựng xây và bảo vệ vương quốc kia đúng là “Non nước” ấy lưu danh ngàn đời trường tồn đến hàng nghìn năm sau , đây cũng đúng là ước mơ của tác giả hay của chính dân tộc ta về một khát khao mãnh liệt về một trái đất thái bình trường tồn đến muôn đời. Việc dùng đến gươm đao để đấu lại quân thù chỉ là giải pháp tình thế mà thôi.

“Phò giá về kinh” đã phát hành đến mấy trăm năm lịch sử nhưng giá trị mà bài thơ để lại vẫn tồn tại đấy vẹn nguyên cho tới ngày nay. Vị danh tướng tài ba-một nhà thơ lớn của dân tộc Trần Quang Khải đã dành hết tâm tư của tớ cho bài thơ, nhắc nhủ đến toàn thể nhân dân, chính đoàn kết là sức mạnh dẫn đến thắng lợi, đồng thời cũng nêu lên tinh thần tự hào dân tộc và nhắc nhở mọi người cần tu dưỡng tài năng, đạo đức góp sức của tổ quốc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” số 7

Thượng tướng Trần Quang Khải là một vị tướng văn võ song toàn, từng có công rất lớn trong hai trận chiến chống quân Mông- Nguyên. Sau thắng lợi vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử, thắng lợi giải phóng kinh đô năm 1285, ông được cử đi đón Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông về kinh. Trên đường đi, ông đã sáng tác bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư”. Đây là khúc khải hoàn thứ nhất của dân tộc ta trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Hai câu đầu của bài thơ thể hiện thắng lợi hào hùng vang dội của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông xâm lược.

Đoạt sáo Chương Dương độ

Cầm Hồ Hàm Tử quan

(Chương Dương cướp giáo giặc,

Hàm Tử bắt quân thù.)

Như chúng ta đã biết, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông thời vua Trần, nhân dân ta đã giành nhiều thắng lợi trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất là thắng lợi trên sông Bạch Đằng. Nhưng tại sao Trần Quang Khải chỉ nói về thắng lợi ở Chương Dương và Hàm Tử mà không hề nhắc đến trận Bạch Đằng? Phải chăng đây là hai thắng lợi tiêu biểu, có tính quyết định dứt khoát để giành thắng lợi sau cuối? Phải chăng nhờ hai thắng lợi này, nhà vua và cả triều đình sau thời gian sơ tán, được trở về kinh đô, trở về nhà trong thú vui sướng? Trong trong thực tiễn lịch sử, thắng lợi Hàm Tử ra mắt trước, thắng lợi Chương Dương sau.

Tại sao tác giả lại nói ngược lại, nêu Chương dương trước, sau đó là Hàm Tử? Tìm hiểu lịch sử, ta thấy rằng, người chỉ huy trận Hàm Tử là tướng Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải chỉ tham gia hỗ trợ. Còn ở trận Chương Dương, Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó được cử hộ giá nhà vua về kinh. thú vui thắng lợi, đi liền với thú vui được “phò giá” dồn dập nối tiếp cộng hưởng cho nhau. Có lẽ vì thế mà trong phút ngẫu hứng, vị tướng đã nhắc ngay đến thắng lợi Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử.

Trong cả hai chiến dịch, quân ta đã chiến đấu rất dũng cảm, khí thế, quyết đoán. Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn với hai động từ mạnh đó là “đoạt” và “cầm”. “Đoạt” tức là “lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác”. Như vậy, dùng từ “đoạt sáo”, nhà thơ vừa ghi nhận chiến công vùa ngợi ca hành động chính nghĩa, dũng cảm của quân ta. Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí của giặc thì ở Hàm Tử, ta bắt sống được tướng giặc ngay tại trận.

Trong chiến trận chắc chắn có thương vong, tổn hại lực lượng của cả bên ta lẫn bên địch. Nhưng lời thơ không đề cập đến, vì mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là giết kẻ thù mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải trả lại vương quốc cho ta. Giọng thơ trẻ khỏe, hùng tráng, âm điệu tươi vui, rộn ràng làm ta có cảm giác vị tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vùa đi vừa cất tiếng ngâm thơ. hoàn toàn có thể nói, hai câu thơ trên đã tái hiện không khí thắng lợi oanh liệt, tình cảm phấn chấn, tự hào của nhà thơ trên đường hộ tống nhà vua về kinh. Dời xuống hai câu sau, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ Hình như đang suy nghĩ về tương lai vương quốc:

Thái bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang san.

(Thái bình nên gắng sức,

Non nước ấy ngàn thu.)

Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng về tương lai của vương quốc, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng của một người trở thành động lực, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao tinh thần trách nhiệm, cố gắng “tu trí lực”, bởi tu dưỡng trí tuệ, rèn luyện sức lực là hai yếu tố tiên quyết của một con người và một dân tộc nếu muốn làm nên thắng lợi, muốn xây dựng hòa bình.

Đồng thời, ông động viên quân dân gắng sức, đồng lòng phát huy thành quả thắng lợi để xây dựng vương quốc thanh thản, bền vững lâu dài chứ không được ngủ quên trên thắng lợi. Câu thơ cuối vừa chỉ ra cái chặng đường đi tiếp của vương quốc vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ lại mang tính biểu cảm. Lời răn dạy hài hòa với niềm tin, niềm mong muốn của quân dân ta.

Hai câu thơ sau là khát vọng hòa bình sau khi giành được thắng lợi vang dội và sự mong muốn xây dựng nền hòa bình cho vương quốc lâu dài. Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng, đồng thời cũng là lời nhắn nhủ với quân dân: chúng ta không được phép ngủ quên trên thắng lợi. Điều đó thể hiện trí tuệ, biết lường trước được mọi việc, tầm nhìn xa trông rộng của một vị lãnh đạo tài ba biết lo cho dân cho nước. Để cho non nước được nghìn thu, hòa bình bền vững, thì khát vọng hòa bình không chỉ là là khát vọng của riêng của người lãnh đạo mà còn là khát vọng chung của cả dân tộc.

bằng phương pháp nói chân thành, với câu chữ giản dị, mộc mạc, “Tụng giá hoàn kinh sư” đã thể hiện hào khí thắng lợi vang dội và khát vọng thái bình thịnh trị của dân tộc ta trong thời đại nhà Trần.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” số 8

Cuộc kháng chiến quân Mông – Nguyên đã qua đi nhưng những hồi ức thắng lợi vẫn tồn tại đấy vang vọng mãi cho tới giờ đây . Nhắc đến cuộc kháng chiến này ta không thể không nhắc đến Trần Quang Khải – vị tướng tài kiệt xuất đã có công lớn trong cuộc kháng chiến này. Và ông cũng đúng là thi sĩ tài hoa sáng tác ra bài thơ “Phò giá về kinh”, cho chúng ta sống lại khí thế hào hùng lúc bấy giờ. Bài thơ đã thể hiện được hào khí thắng lợi và khát vọng của dân tộc ta

“Đoạt sáo Chương Dương độ

Cầm hồ Hàm Tử Quan

Thái bình tu nỗ lực
Vạn cổ thử giang san”

Dịch thơ:
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu

Mở đầu bài thơ là chiến công vang dội của quân và dân Đại Việt và mùa hè năm Ất Dậu năm 1285:

Đoạt sáo chương dương độ
Cầm hồ Hàm Tử Quan

Chương Dương và Hàm Tử Quan là hai địa danh lừng lẫy lưu danh sử sách. Trước hết là Chương Dương là bến sông nằm phía hữu ngạn sông Hồng thuộc Hà Tây cũ, trận đánh này do Trần Quang Khải trực tiếp chỉ huy. Hàm tử là địa danh ở tả ngản sông Hồng, trận này do tướng Trần Nhật Duật lãnh đạo cùng với sự hỗ trợ đắc lực của Trần Quang Khải . Hai thắng lợi này đã khiến quân giặc khiếp sợ mà thể hiện tài năng đánh giặc của Trần Quang Khải. ngay trong những khi đọc hai câu thơ ta đã thấy 2 cụm từ đặt đầu câu: Đoạt sáo (cướp giáo ), Cầm hồ (bắt giặc ). Nó là một điểm nhấn trong khúc ca đại thắng vậy. Hơn thế nữa hai từ này là động từ mạnh thể hiện nhịp độ dồn dập, quyết liệt sôi động của chiến trận. Giọng thơ sảng khoái hào hùng phản ánh khí thế của nhân dân ta lúc bấy giờ. Tác giả không dừng lâu trong chiến công cũng không say sưa với thắng lợi nhưng ta vẫn cảm nhận được niềm phấn khởi , kiêu hãnh toát ra từ âm hưởng của bài thơ.

Mùa hè năm Ất Dậu đúng là mốc son chói lọi trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của chúng ta . Những chiến công hiển hách đã truyền cảm hứng vào những vần thơ hùng tráng khiến bài thơ mang đậm phong vị anh hùng ca . Trần Quang Khải thật tài tình khi sử dụng biện pháp liệt kê và phép đối để làm nổi trội hai sự kiện lịch sử mang tầm chiến lược. chắc rằng còn sống trong không khí hào hùng của thắng lợi Chương Dương vừa ra mắt nên ông đã đặt nó lên trước, kế đó là trận đánh Hàm Tử Quan được ra mắt trước đó không lâu.

Hai trận đánh này đã lật ngược tình thế đưa VN từ thế bị động sang thế chủ động , giáng một đòn mạnh đến quân giặc khiến chúng phải khiếp sợ. Chương Dương và Hàm Tử Quan chính dấu ấn quan trọng thể hiện thắng lợi của dân tộc ta. Phải là tình nhân quê, vương quốc da diết thì Trần Quang Khải mới viết được những vần thơ hào hùng đến thế . Không ngủ quên trong thắng lợi ông đã nghĩ ngay đến việc xây dựng và phát triển vương quốc trong hòa bình:

Thái bình tu nỗ lực
Vạn cổ thử giang san

Ông nhấn mạnh trong thời bình mọi người cần phải dốc sức xây dựng non sông vương quốc , nước mạnh dân giàu mới khiến bọn giặc không bén mảng tới cũng như giữa gìn được độc lập lâu dài. Không những là một vị tướng tài ba, Trần Quang Khải còn là một vị quan tài năng trong việc quản lý sắp xếp mọi việc. Ông luôn đặt vấn đề lo cho nước cho dân lên hàng đầu. Những câu thơ Hình như rất giản đơn ngắn gọn nhưng ý tưởng phát minh bên trong thật to lớn. Khi Tổ quốc gặp nạn chúng ta cần đồng lòng đánh đuổi giặc ngoại xâm, còn khi hòa bình chúng ta từ những quan đại thần đến nhân dân cần dốc sức một lòng xây dựng vương quốc ngày càng lớn mạnh. Qua đây ta thấy được tầm nhìn xa trông rộng của ông. Đến tận giờ đây bài học được rút ra từ bài thơ vẫn được áp dụng đến tận nay: phải chăm sóc xây dựng vương quốc thì mới giữ gìn hòa bình cuộc sống nhân dân mới ấm no hạnh phúc đừng ngủ quên trong thắng lợi

Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn Trần Quang Khải đã thể hiện được khí thế hào hùng và bày tỏ được khát vọng xây dựng vương quốc, giữ gìn hòa bình. Bài thơ cũng là một lời nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vương quốc .

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” số 9

Trần Quang Khải là một trong những vị anh hùng đem tài thao lược làm nên chiến công Chương Dương Hàm Tử lừng lẫy muôn đời. Bên cạnh là một võ tướng anh dũng ông còn tài năng viết văn thơ. Ông cũng để lại một trọng lượng tác phẩm khá lớn và có giá trị đến tận ngày nay. kể tới những tác phẩm tiêu biểu của ông ta không thể không nhắc đến tác phẩm”phì giá về kinh”. Tác phẩm được sáng tác khi ông đi tùy tùng đón vua về khinh thành thăng long

Mở đầu bài thơ tác giả muốn giới thiệu đôi nét cho chúng ta về tình cảnh vương quốc thời bấy giờ

“Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm tử cướp quân thù”

Hai câu thơ thứ nhất là hình ảnh chiến trận thảm khốc nhưng lại chứa đựng những nét thơ ca độc đáo. Chương dương và hàm tử là hai thắng lợi lừng lẫy của nước Đại Việt ta trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống quân xâm lược Mông cổ. Đối với nhân dân nhà Trần thì chỉ việc nhắc đến hai cái tên đó cũng đủ nức lòng. Tác giả đúng là người chỉ huy trực tiếp chiến trận người góp phần rất lớn làm nên chiến công ấy thì cảm giác của tác giả cũng không kém phần bồi hồi xúc động nhớ nhung. Tác giả kể mà không tả, ông không trực tiếp kể ra trận chiến thảm khốc của nhân dân ta đã thắng lợi oanh dũng trước kẻ thù xâm lược, tuy vật việc chỉ kể ra như thế thôi cũng đủ làm sống dậy cả một không khí trận mạc hào hùng của nhân dân ta bởi tiếng gươm kiếm tiến ngựa hí tiếng binh khí và cả tiến gào thét vang dội cả trời đất. Đó đúng là sức gợi cảm và lại cực kì cương nghĩ của tác phẩm.

Nếu hai câu thơ thứ nhất cho chúng ta một mạch cảm xúc chiến trận hào hùng bi tráng thì hai câu thơ tiếp theo lại hướng về cảnh thanh thản, đó đúng là cảnh bình yên mà nhân dân ta đã cố gắng đánh đổi máu sương để hoàn toàn có thể giành lại được.

“Thái bình nên gắng sức
Non nước lấy ngàn thu”

Đây phải chăng đúng là một lời tự nhủ của tác giả nói với chính bản thân mình về thân phận là quan phải phụng sự vương quốc phò tá nhân dân thì nhân dân mới hoàn toàn có thể được hưởng thái bình ấm no hạnh phú. Nhà thơ tự nói với mình, tự nhắc nhở mình về nhiệm vụ trước mắt cũng là nhiệm vụ lâu dài: “Thái bình tu trí lực”. Giặc ngoại xâm đã bị quét sạch, vương quốc được thái bình, những quý tộc, những vương hầu phải “tu trí lực”, tức là nên gắng sức, đem tài trí. đem sức người, sức của ra xây dựng lại vương quốc. Đó cũng !à điều tâm huyết mà nhà thơ muốn nhắc nhở mọi người. Lời thơ cho thấy nhặn quan sáng suốt, tầm chiến lược sâu xa của Trần Quang Khải, cho thấy tầng lớp quý tộc nhà Trần là lực lượng tiến bộ nhất trong xu thế đi lên của lịch sử dân tộc, đang nắm quyền lãnh đạo vương quốc Đại Việt.

Vì sự vững bền của giang sơn đến muôn đời mà “tu trí lực”. Lời thơ bình dị, nhưng ý tưởng phát minh chứa đựng bên trong, cái ý nhắc nhở của nhà thơ thì không chút tầm thường và đơn giả. Đó cũng là lời tự nhủ đối với toàn thể nhân dân ta thời bấy giờ. Tiếng nói khát vọng của một người trở thành ý nghĩ quyết tâm của toàn nhân dân ta thời bấy giờ. Tiếng nói khát vọng của một người trở thành ý nghĩ quyết tâm của toàn nhân tộc. Đồng thời nhân dân hãy gắng sức phát huy thành quả mà chúng ta mới có được nếu không rất có thể vương quốc sẽ rơi vào cảnh nước mất nhà tan.

Câu thơ cho chúng ta thấy được tình cảm của một vị tướng quân đối với vương quốc khi mà ông mới trở về sau chiến trận nhưng lại quan tâm ngay đến thai bình của nhân dân không để nhân dân vì quá vui mừng cho thắng lợi và lại quên đi nhiệm vụ xây dựng vương quốc của dân tộc ta. Câu thơ kết mở ra cho chúng ta rất nhiều ý nghĩa sâu sắc Câu thơ vừa mở ra cái đích của vương quốc lại vừa chỉ ra mong muốn khát khao của chính tác giả về một vương quốc hòa bình an cư lạc nghiệp về tương lai tươi sáng của cả dân tộc. Nghĩa của câu thơ biếu ý nhưng nhạc của câu thơ lại biểu cảm. Lời thơ răn dạy hòa bình niềm mong muốn đối với nhân dân vương quốc.

Tác phẩm là một kiết tác trong nền thơ cổ văn học Việt Nam. Bài thơ có giá trị lịch sử như một tượng đài chiến công tráng lệ và nó đã làm sống lại những chiến công hào hùng của dân tộc ta. Đồng thời tác phẩm cũng cho chúng ta thấy được thế hệ con cháu chúng ta cần học tập thật tốt để xây dựng một vương quốc giàu mạnh để đền đáp xứng đáng mong ước của nhân dân ta của cha ông ta.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

10


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” số 10

Phò giá về kinh là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Trần Quang Khải, đứng trong hàng ngũ những bài thơ yêu nước xuất sắc nhất của văn học Việt Nam. Bài thơ vừa thể hiện âm hưởng thắng lợi hào hùng vừa cho thấy tầm nhìn xa trông rộng về đường hướng phát triển vương quốc của tác giả.

Bài thơ làm ngay sau khi quân ta giành thắng lợi, lúc đó Trần Quang Khải đi đón và hộ giá Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông trở về kinh thành Thăng Long. Bởi vậy bài thơ phát hành trong âm vang thắng lợi hào hùng của thắng lợi Chương Dương, Hàm Tử do đích thân Trần Quang Khải chỉ huy chiến đấu.

Hai câu thơ đầu là cảm hứng tự hào trước những chiến công của thời đại, mang tính thời sự nóng hổi: Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù. Câu thơ ngắn gọn, chỉ có năm chữ mà chắc nịch ý tứ và thú vui. Câu thơ như dồn nén sức mạnh và sự thần tốc, chớp nhoáng của những chiến công. những động từ mạnh mẽ, dứt khoát: đoạt, cầm mang phong thái của một vị tướng. Đồng thời còn diễn tả được không khí sục sôi của những sự kiện lịch sử có ý nghĩa sâu sắc xoay chuyển cục diện chiến trường.

Chương Dương là trận đấu mở màn nhưng lại có ý nghĩa sâu sắc quyết định đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai. Câu thơ vang lên thật hào sảng, hân hoan thú vui. Đầu mỗi câu thơ gắn với hai địa danh: Chương Dương, Hàm Tử đây là những địa danh chói lọi gắn liền với những chiến công lịch sử của dân tộc, nó cũng trở thành hình tượng cho thắng lợi huy hoàng. Nhắc lại hai địa danh đó càng làm thú vui, niềm tự hào được nhân lên hơn nữa. Ngoài ra tác giả còn sử dụng từ ngữ mang sắc thái biểu cảm: chữ Hồ thường được người phương Bắc dùng để gọi những dân tộc thiểu số phía Tây và tây-bắc Trung Quốc. Bởi vậy khi sử dụng chữ này với quân xâm lược Mông – Nguyên tác giả thể hiện sự khinh bỉ.

Vui với thú vui thắng lợi, nhưng đằng sau đó ta vẫn thấy một Trần Quang Khải có tầm nhìn xa trông rộng, hết sức quan tâm đến vận mệnh vương quốc. Hai câu thơ trên lướt nhanh qua những dòng sự kiện để rồi đọng lại những suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc: Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu. Hai câu thơ cho thấy cho thấy suy nghĩ, tầm nhìn của một vị thủ lĩnh, trong thú vui chung của vương quốc, ông không bị cuốn đi, không an lạc trong thắng lợi mà vẫn nêu lên nhiệm vụ sau khi giành được độc lập.

Ông nêu lên trách nhiệm dẫu thái bình vẫn phải dốc hết sức lực để xây dựng, phát triển vương quốc, có như vậy sông núi nước Nam mới bền vững muôn thuở. Hai câu thơ cuối vừa là chân lí vừa là kinh nghiệm được đúc rút từ thực tiễn chiến đấu lâu dài của dân tộc. Cũng chính bởi lời dặn dò ấy, mà nhân dân ta đã tiếp tục đánh thắng sự xâm lược của quân Mông – Nguyên lần tiếp theo, cũng bởi thế mà vận mệnh vương quốc lâu bền, thịnh trị, nhân dân được sống trong cảnh yên ấm, hạnh phúc. Câu thơ đã thể hiện tầm nhìn của một con người có hiểu biết sâu rộng, cái nhìn sáng suốt, chiến lược trong tương lai.

Bài thơ sử dụng thể thơ ngũ ngôn với số câu chữ ít ỏi, nhưng cực kì hàm súc. Số câu chữ ít ỏi những đã khái quát đầy đủ sự kiện lớn của dân tộc và nêu lên chân lí lớn của thời đại. Kết cấu thơ chặt chẽ, ngôn từ chọn lọc, nhịp thơ ngắn gọn, phối hợp giữa biểu ý và biểu cảm. Vừa đưa ra những sự kiện lịch sử chính vừa thể hiện thú vui, sự hân hoan trước thắng lợi và những suy tư, chiêm nghiêm sau khi vương quốc đánh bại quân xâm lược.

Bài thơ với ngôn ngữ chọn lọc, cô đọng giàu sức biểu cảm đã cho thấy hào khí thắng lợi và khát vọng thái bình thịnh trịnh của nhân dân đời Trần. Đồng thời khẳng định chân lí vừa mang ý nghĩa sâu sắc thời sự vừa mang ý nghĩa sâu sắc lịch sử: “Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu”.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải, Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải, Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *