Top 10 Bài phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy trong “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”

05-02-2021 10 19140 1 0

Báo lỗi

Truyện “An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy” trích từ “Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái” – một sưu tập truyện dân gian phát hành vào khoảng cuối thế kỉ XV. Truyện giải thích nguyên nhân mất nước Âu Lạc và nêu lên bài học lịch sử về sự việc giữ nước, tinh thần cảnh giác với kẻ thù cùng cách xử lí đúng đắn trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa cái riêng với cái chung, giữa nhà và nước. Truyện cũng là thảm kịch về tình yêu của cặp vợ ông xã Mị Châu – Trọng Thủy. Mời những bạn xem thêm một số bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy trong mẩu truyện đã được Toplist tổng hợp trong bài viết dưới đây.

12345678910

1


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 1

Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy nêu bài học cảnh giác trước tiên của lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta. Phần đầu truyện phản ánh vai trò của An Dương Vương trong việc xây dựng và bảo vệ nước Âu Lạc; phần sau là thảm kịch nước mất nhà tan do sự mất cảnh giác của cha con An Dương Vương.

Mị Châu là con gái của An Dương Vương Thục Phán, là một nàng công chúa lá ngọc, cành vàng, có tâm hồn ngây thơ trong trắng, nhẹ dạ, cả tin và không tồn tại một chú gì về ý thức công dân. Xuất hiện ở phần sau của tác phẩm, Mị Châu cũng là người phải phụ trách lớn trước thảm kịch “nước mất nhà tan”.

Khi đánh giá về nhân vật này, đã xuất hiện nhiều ý kiến không giống nhau, người lên án, kẻ bênh vực. Những người bênh vực thì đã lấy đạo “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử), một quan điểm đạo đức thời phong kiến để bênh vực cho nàng. Theo họ, Mị Châu là người con gái hiền thục, trọn đạo hiếu, vâng lời cha lấy ông xã, lấy ông xã thì một niềm tin yêu ông xã. Sao hoàn toàn có thể trách nàng mất cảnh giác với cả ông xã mình được? Vì vậy việc Mị Châu không giấu giếm Trọng Thuỷ điều gì là vô tội.

Nhưng họ đã quên rằng, trong một giang sơn nhiều giặc giã, một nàng công chúa lại chỉ biết làm trọn chữ “tòng” mà vô tình với vận mệnh vương quốc là có tội. Mị Châu tin yêu ông xã không tồn tại gì đáng trách nhưng nàng đã vi phạm nguyên tắc “bí mật vương quốc” của một người dân đối với giang sơn, đặt tình riêng lên trên việc nước dù đó chỉ là do sự nhẹ dạ, vô tình. Nếu sự mất cảnh giác của ADV là nguyên nhân gián tiếp thì sự nhẹ dạ, ngây thơ của Mị Châu là nguyên nhân trực tiếp gây lên hoạ nước mất. Mị Châu tin yêu ông xã bằng một tình yêu mù quáng. Nhân dân ta đã sáng tạo thành hình ảnh áo lông ngỗng là chi tiết nghệ thuật tài tình để thể hiện sáng rõ sự mù quáng đáng trách của Mị Châu.

Trọng Thuỷ đánh tráo nỏ thần, trước khi về nước đã hỏi Mị Châu: “Ta nay trở về thăm cha … làm giấu.” Mị Châu đáp: “Thiếp có … làm dấu”. Trọng Thuỷ vừa về nước, chiến tranh hai nước xảy ra, lẫy nỏ không thể, phải lên ngựa bỏ chạy cùng vua cha, lẽ ra phải ghi nhận đó là thủ đoạn của Trọng Thuỷ, thế mà Mị Châu vẫn nhẹ dạ, mù quáng, không suy xét sự tình, vẫn rắc lông ngỗng làm dấu, có khác gì chỉ đường cho giặc đuổi theo mình. Việc làm đó của nàng đã trực tiếp dẫn tới thảm kịch nhà tan.

Vì vậy, không thể cho rằng làm một người vợ thì Mị Châu phải tuyệt đối nghe và làm theo lời ông xã. Không thể cho rằng nàng là người vô tội, không phải chịu bất kỳ trách nhiệm gì trước thảm kịch nước mất nhà tan. Tội lỗi của nàng là hết sức nặng nề. Chính vì vậy, nhân dân ta không đánh giá nàng theo quan điểm đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của vương quốc, dân tộc để kết tội nàng. Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với giang sơn, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.

Song thái độ, cách đánh giá của nhân dân vừa thấu tình, vừa đạt lí. Mị Châu có tội nhưng những tội lỗi mà nàng gây ra không phải là chủ ý của nàng mà do nàng quá nhẹ dạ, yêu ông xã bị lừa dối mà mắc tội. Hơn nữa, sau cuối, nàng cũng đã tỉnh ngộ nhận thấy kẻ thù và chấp thuận một chiếc chết đau đớn. Mị Châu có tội nàng đã phải đền nhưng nỗi oan của nàng cũng cần phải giải. Sáng tạo thành chi tiết thần kì, ứng nghiệm với lời cầu khấn trước khi chết của Mị Châu, nhân dân ta đã bày tỏ thái độ bao dung, niềm cảm thông mà minh oan cho nàng. Đồng thời, trải qua chi tiết thần kì đó, ông cha ta cũng thể hiện thái độ nghiêm khắc của tớ và truyền lại một bài học lịch sử muôn đời cho con cháu trong việc giải quyết mối quan hệ riêng – chung.

Về Trọng Thủy: Trọng Thuỷ là một trong ba nhân vật chính của tác phẩm. Hắn là con trai của Triệu Đà, con dể của An Dương Vương, là ông xã của Mị Châu công chúa. Sang Âu Lạc theo mưu kế nham hiểm của cha mình, Trọng Thuỷ lấy Mị Châu không phải vì tình yêu mà chỉ để lợi dụng nàng triển khai một mưu đồ chính trị, để hoàn thành nhiệm vụ gián điệp được cha hắn phó thác mà thôi. Và với danh nghĩa một người ông xã, Trọng Thuỷ đã hoàn thành xuất sắc vai trò gián điệp ấy. Hắn đã lợi dụng Mị Châu, lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin, lừa gạt tình cảm của nàng để đánh cắp nỏ thần và nham hiểm hỏi Mị Châu một câu hỏi đầy dụng ý trước khi về nước với mục đích để biết cách tìm đường đuổi theo An Dương Vương nếu nhà vua chạy trốn. Chính những việc làm này của hắn là những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới thảm kịch nước mất nhà tan của cha con ADV và nhân dân Âu Lạc. Hắn đó là kẻ thù của nhân dân Âu Lạc, là một kẻ cũng đáng bị vạch mặt, lên án, tội lỗi đời đời.

Tuy nhiên, xét ở một góc độ khác, Trọng Thuỷ cũng chỉ là nạn nhân của một trận chiến tranh xâm lược. Trong tay của Triệu Đà, Trọng Thuỷ không hơn không kém cũng chỉ là một con cờ chính trị mà thôi. Hơn nữa, mặc dù là một kẻ độc ác, Trọng Thuỷ cũng không phải hoàn toàn đã mất hết nhân tính của một con người. Chính lời nói của Trọng Thuỷ với Mị Châu trong lúc chia tay, hành động tự vẫn sau chuỗi ngày sống trong sự dày vò, ân hận của hắn đã nói lên điều đó.

Trước lúc chia tay về nước dâng lẫy nỏ thần cho Triệu Đà, Trọng Thuỷ đã nói với Mị Châu: “Tình vợ ông xã … làm dấu”. Đây không hoàn toàn là những lời dối trá, lạnh lùng mà nó chứa đựng ít nhiều tình cảm bùi ngùi, một nỗi đau li biệt.

Tính người của Trọng Thuỷ còn được thể hiện rõ hơn rất nhiều ở phần sau cuối của tác phẩm khi tác giả dân gian mô tả tâm trạng của Trọng Thuỷ sau cái chết của Mị Châu. Không đắm mình trong hào quang, danh vọng, trong hạnh phúc của sự thống trị uy quyền, sau khi Mị Châu chết, Trọng Thuỷ luôn sống trong nỗi niềm thương nhớ, trong nỗi ân hận dày vò và sau cuối bế tắc, cùng đường hắn đã tự tìm cho mình cái chết. Trọng Thuỷ quyên sinh không phải chỉ là hành động sám hối cho một sai lầm mù quáng, mà còn là sự thức tỉnh của nhân tính, sự phủ nhận chiến tranh, sự từ chối mọi vinh quang quyền lực tìm về với cõi thiên thu để có được một tâm hồn thanh thản.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 2

Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là một tác phẩm cực kì tiêu biểu, để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Nhắc đến tác phẩm này, không ai là không nhớ tới nàng Mị Châu xinh đẹp, nết na, nhưng vì tình yêu với ông xã, vì sự nhẹ dạ cả tin nên trở thành tội nhân thiên cổ và chết trong đau đớn.

Mị Châu là con gái của An Dương Vương Thục Phán, là một nàng công chúa lá ngọc, cành vàng, có tâm hồn ngây thơ trong trắng, nhẹ dạ, cả tin và không tồn tại một chú gì về ý thức công dân. Xuất hiện ở phần sau của tác phẩm, Mị Châu cũng là người phải phụ trách lớn trước thảm kịch “nước mất nhà tan”. Đó là một nàng công chúa xinh đẹp, ngây thơ và trong trắng, không một chút ý thức gì về trách nhiệm công dân, ý thức chính trị, chỉ biết đắm mình trong tình yêu, tình cảm vợ ông xã.

Mị Châu ngây thơ, cả tin đến mức: tự ý sử dụng bí mật vương quốc cho tình riêng, khiến bảo vật giữ nước bị đánh tráo mà hoàn toàn không biết ; Lại chỉ nghĩ đến hạnh phúc cá nhân khi lưu lại đường cho Trọng Thuỷ đuổi theo. Khi đánh giá về nhân vật này, đã xuất hiện nhiều ý kiến không giống nhau, người lên án, kẻ bênh vực. Bị kết tội là giặc ngồi sau lưng ngựa, là đúng và đích đáng, mà người ra tay đó là cha đẻ của nàng. Mị Châu tội lỗi thật nặng nề, thật đáng bị trừng trị nghiêm khắc. Nàng phải trả giá cho những hành động cả tin, ngây thơ, khờ khạo của tớ bằng tình yêu tan vỡ, bằng cái chết của chính mình.

Mặc dù là nàng công chúa gây ra hậu quả mất nước, nhưng với Mị Châu, nhân dân thật công minh, bao dung, độ lượng và nhân hậu khi thờ An Dương Vương trong đền Thượng, mà thờ công chúa Mị Châu trong am bà Chúa, (Trong số đó thờ bức tượng không đầu). Nhưng công minh mà nói, Mị Châu cũng thật đáng thương, đáng cảm thông, do toàn bộ những sai lầm, tội lỗi đó đều xuất phát từ sự vô tình, từ tính ngây thơ nhẹ dạ, cả tin đến mức mù quáng của nàng. Nàng chỉ hành động theo tình cảm, chứ chẳng hề đắn đo suy xét, chỉ biết việc riêng, chẳng lo việc chung. Tố Hữu đã viết về nàng một cách công minh và nghiêm khắc trong bài Tâm Sự:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…

Chi tiết Mị Châu cho Trọng Thuỷ xem nỏ thần chứng tỏ Mị Châu nặng về tình cảm vợ ông xã mà bỏ quên nghĩa vụ, trách nhiệm với Tổ quốc. hoàn toàn có thể khẳng định Mị Châu đã vi phạm vào nguyên tắc của bề tôi đối với vua cha. Nàng đã bật mí bí mật vương quốc. Đành rằng tình cảm vợ ông xã tuy gắn bó cũng không thể vượt lên trên tình cảm giang sơn. Nước mất dẫn đến nhà tan, không ai hoàn toàn có thể bảo toàn hạnh phúc. Lông ngỗng hoàn toàn có thể rắc cùng đường nhưng Trọng Thuỷ cũng không thể cứu được Mị Châu. Chúng ta cần xuất phát từ cơ sở phương pháp luận và ý thức xã hội, chính trị-thẩm mĩ của nhân dân trong đặc trưng thể loại Truyền thuyết để nhìn nhận về nhân vật Mị Châu.

Thể loại này nhằm đè cao nét đẹp đẽ, phê phán cái xấu, cái ác, theo quan niệm nhân dân. Truyền thuyết tôn vinh lòng yêu nước, ý chí vì độc lập – tự do, không thể ca tụng nàng công chúa con vị vua anh hùng, khổ công xây dựng thành giữ nước lại chỉ biết nghe lời ông xã, không nghĩ đến bổn phận công dân với vận mệnh Tổ quốc. Nhìn ngược lại lịch sử để rút ra kinh nghiệm, giáo dục tình yêu nước, tôn vinh ý thức công dân, đặt việc nước cao hơn việc nhà. Chính vì vậy, nhân dân ta không đánh giá nàng theo quan điểm đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của vương quốc, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với giang sơn, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.

Nàng Mị Châu trước khi chết cũng nhận thấy tội lỗi của lớn của tớ và không hề chối tội. Nàng chỉ muốn thanh minh “Nếu có lòng phản nghịch, mưu hại cha, chết đi sẽ trở thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ trở thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Nàng chỉ mong rửa tiếng “bất trung, bất hiếu”, chỉ muốn mọi người hiểu rằng mình “một lòng trung hiếu mà bị lừa dối” chứ không kêu oan, cũng không xin tha tội. Công chúa Mi Châu được người Âu Lạc xưa và người Việt Nam đời đời thương xót vì đã biết tội, dám nhận tội và cam lòng chịu tội. Nếu lấy đạo “tam tòng” để thanh minh cho Mị Châu, rằng nàng chỉ là phận gái, rằng nàng làm vợ chỉ việc phục tùng ông xã là đủ thì đó là đã hạ thấp bản lĩnh và tư cách của nàng công chúa nước Âu Lạc này.

Hình ảnh ngọc trai – ngọc minh châu là hoá thân của nàng. Mị Châu đã phải chịu thi hành bản án của lịch sử xuất phát từ truyền thống yêu nước, tha thiết với độc lập tự do của người Việt cổ. Tuy nhiên số phận Mị Châu không dừng lại ở đó. Nhưng nàng không hoá thân trọn vẹn trong một hình hài duy nhất. Nàng hoá thân- phân thân: máu chảy xuống biển, trai ăn phải hoá thành ngọc trai. Xác nàng hoá thành ngọc thạch. Hình ảnh đó vừa thể hiện sự bao dung, thông cảm với sự trong trắng ngây thơ, vô tình khi phạm tội vừa thể hiện thái độ nghiêm khắc cùng bài học lịch sử về giải quyết quan hệ giữa nhà với nước, chung với riêng.

Bài học về nhân vật Mị Châu là một bài học cực kì cay đắng xót xa cho người con gái thánh thiện nhưng quá khờ khạo và cả tin. Đó cũng là bài học về sự cảnh giác và đặt niềm tin đúng chỗ cho biết bao thế hệ người Việt Nam chúng ta.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 3

Mị Châu là con gái của Thục Phán An Dương Vương, là một nàng công chúa lá ngọc cành vàng, có tâm hồn ngây thơ, trong sáng, nhẹ dạ cả tin và không tồn tại chút gì về ý thức công dân. Xuất hiện ở phần sau của truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, nàng cũng là người phải phụ trách rất lớn về thảm kịch “nước mất nhà tan”.

Mị Châu sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh An Dương Vương “xây thành chế nỏ” và đánh bại quân xâm lược Triệu Đà lần thứ nhất. hoàn toàn có thể nói, nàng sống trong cuộc kháng chiến chống xâm lược mà cha nàng là thủ lĩnh vô thượng, nhưng qua truyền thuyết, chúng ta thấy Mị Châu hoàn toàn ngây thơ, không quan tâm và không tồn tại chút hiểu biết gì về sự việc bảo vệ giang sơn. Điều đó thể hiện qua việc Mị Châu lén lấy trộm nỏ thần cho Trọng Thủy xem. Hành động đó vừa đáng thương, vừa đáng trách. Đáng thương vì Mị Châu đã làm theo đạo tam tòng nhưng đáng trách vì trong hoàn cảnh giang sơn có giặc giã, một nàng công chúa con vua mà chỉ biết làm trọn chữ “tòng” mà không quan tâm đến vận mệnh giang sơn, nhân dân là có tội. Mị Châu tin yêu ông xã thì không tồn tại gì đáng trách nhưng nàng đã vi phạm nguyên tắc “bí mật vương quốc” của một công dân, tất yếu sẽ bị lên án, phê phán.

Mị Châu đã đặt tình riêng cao hơn nghĩa nước, một hành động không nghĩ đến bổn phận của cá nhân đối với Tổ Quốc, càng không nhận thức được quyền lợi của vương quốc tác động đến cá nhân. Nếu sự mất cảnh giác của An Dương Vương là nguyên nhân gián tiếp thì sự nhẹ dạ, cả tin, ngây thơ của Mị Châu lại đó là nguyên nhân trực tiếp gây ra họa mất nước. Mị Châu tin yêu ông xã bằng một tình yêu mù quáng. Nhân dân ta đã sáng tạo ra hình ảnh áo lông ngỗng là một chi tiết nghệ thuật tài tình để thể hiện rõ sự mù quáng, đáng trách đó. Trọng Thủy đánh tráo nỏ thần, trước khi về nước đã hỏi Mị Châu: “Tình vợ ông xã không thể quên khuấy, nghĩa mẹ cha không hề dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu”.

Mị Châu đáp: “Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ dứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ hoàn toàn có thể cứu được nhau”. Trọng Thủy vừa về nước, chiến tranh hai nước đã xảy ra. Lẫy nỏ không thể, phải lên ngựa bỏ chạy cùng vua cha, lẽ ra phải sớm tình ngộ đó là thủ đoạn của Trọng Thủy, vậy mà Mị Châu vẫn nhẹ dạ mù quáng, không suy xét sự tình mà vẫn rắc lông ngỗng để làm dấu, khác nào chỉ đường cho giặc tìm tới bắt mình. Việc làm đó trực tiếp dẫn tới thảm kịch mất nước nhà tan. Nhờ lời nhắc nhở của thần Kim Quy, nàng mới nhận thấy thực chất giả dối của Trọng Thủy và dứt khoát từ bỏ, vĩnh biệt Trọng Thủy trong cuộc đời cũng như trong tâm khản của tớ.

Trước khi chết, Mị Châu đã nói: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ trở thành cát bụi. Nếu một lòng chung hiếu mà bị người dối lừa, chết đi sẽ trở thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Nàng chỉ muốn rửa tiếng “bất trung”, “bất hiếu”, chỉ muốn cho mọi người hiểu rằng mình bị lừa dối chứ không dám kêu oán, cũng như xin tha tội. Tuy thế, nhân dân ta không đánh giá nàng theo quan điểm đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của vương quốc, dân tộc để kết tội nàng. Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một công dân đối với giang sơn, nhân dân ta đã không những để cho Rùa Vàng kết tội đanh thép, không khoan nhượng, gọi nàng là “giặc” mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha. thảm kịch của Mị Châu trở thành bài học về lợi ích giữa cái riêng và cái chung, và cho những người con trai, con gái sau này về thực chất nhẹ dạ cả tin. Dù là ai thì cũng cần phải có ý thức về sự tồn vong của giang sơn.

Song thái độ, cách đánh giá của nhân dân vừa thấu tình lại vừa đạt lí. Mị Châu có tội nhưng những tội lỗi mà nàng gây ra là do nàng quá nhẹ dạ, yêu ông xã nên bị lừa dối. Hơn nữa, nàng cũng tình ngộ và phải chịu cái chết đau đớn. Tuy nhiên, tác giả dân gian lại không muốn kết thúc số phận Mị Châu bằng cái kết thê thảm ấy. Nàng đã được hóa thân thành một hình hài khác: “Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều trở thành hạt châu”, “Xác nàng đem về táng ở Loa Thành, xác trở thành ngọc thạch.

Đây là một thủ pháp nghệ thuật quen thuộc mang tính truyền thống của truyện kể dân gian: sử dụng hình thức hóa thân để nối dài sự sống cho nhân vật. Nhưng ở nhiều truyện, nhân vật chỉ hóa thân trong một hình hài thì Mị Châu lại không hóa thân trọn vẹn. Hình thức hóa thân, phân thân độc đáo này thể hiện sự cảm thông, bao dung của nhân dân với sự trong trắng của Mị Châu, vừa thể hiện thái độ nghiêm khắc cùng bài học lịch sử. mẩu truyện về Mị Châu là bài học đáng giá đến muôn đời. Tố Hữu đã viết:

“Tôi kể người nghe chuyện Mị Châu

Trái tim lầm chỗ đặt trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 4

Từ bao đời nay, ông cha ta luôn có những cách giáo dục con người trải qua những bài học trong quá khứ. trải qua những câu ca dao, tục ngữ, những mẩu chuyện ngụ ngôn,.. nhiều bài học đắt giá đã được đúc kết. Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là một trong những bài học về sự việc giữ nước và tinh thần cảnh giác. Trong truyện, có một nhân vật vừa đáng thương mà cũng đáng trách cực kì, đó là Trọng Thủy – một nhân vật khiến chúng ta phải suy ngẫm.

Trọng Thủy là một trong ba nhân vật chính của chuyện như tên của tác phẩm, nhân vật này đóng vai phản diện tạo thành xích míc của chuyện. Thủy là con trai của Triệu Đà – một tên mưu mô xảo quyệt, luôn tìm cách xâm lược Âu Lạc. Thủy đó là một con cờ cho Triệu Đà lên kế hoạch tái xâm chiếm việt nam. Biết ý đồ xấu của cha, hắn không hề ngăn cản, hắn “ngoan ngoãn” nghe theo lời sắp đặt của cha, hoàn toàn có thể thấy rằng Thủy là một người có tâm cơ không kém cha mình.

Trọng Thủy cùng cha đã có những kế hoạch riêng. trước tiên, hắn sang Âu Lạc cầu hòa, kết thân với Mị Châu, rồi tiến tới muốn cầu hôn nàng. Mị Châu là người con gái mới lớn, cực kì hồn nhiên ngây thơ, trong sáng. Nàng đã rơi vào bẫy tình của Trọng Thủy. lấy được lòng Mị Châu và vua cha, hắn đã cưới nàng và ở rể tại Âu Lạc. Hắn luôn tìm cách kiếm lấy được niềm tin của nàng, lừa nàng để biết được bí mật của vua cha. Hắn đã không mảy may do dự, nhân thời cơ đã đánh tráo chiếc nỏ thần, rồi lừa gạt Mị Châu trở về báo cho Triệu Đà, mang quân sang đánh, mưu sát An Dương Vương.

Trong mối quan hệ vợ ông xã, Trọng Thủy đối xử tốt với Mị Châu toàn bộ là vì đã có thủ đoạn sẵn có, không hề từ trái tim, cho thấy hắn là một người ông xã bạc tình, phụ bạc, đã lợi dụng tình yêu của nàng để vụ lợi cho mục đích riêng của tớ. Nhưng rồi “ác giả, ác báo”, chính Trọng Thủy đã gặp phải thảm kịch không lối thoát của tớ. Sau thời gian sống chung với Mị Châu, Thủy nhận thấy được tình cảm sâu đậm mà vợ đã giành cho mình, nàng luôn chung thủy, tin tưởng mình. Thủy cũng nhận thấy mình rất yêu vợ, hắn hối hận với những việc mình đã làm, hắn đã phụ tình với người mình yêu. Và cái chết hoàn toàn có thể là cách tốt nhất mà hắn muốn chuộc tội với nàng. Sau cùng, Trọng Thủy cũng đó là một quân cờ của cha mình, bị xoáy vào trận chiến của những kẻ tham lam.

Trọng Thủy đáng bị lên án về những hành động đã gây ra, một tên có thủ đoạn hèn nhát, lợi dụng sự ngây ngô cả tin của Mị Châu để đánh cắp nỏ thần rồi gây ra sự đau khổ lầm than của toàn một dân tộc Âu Lạc. Nhưng ta cũng đều có phần cảm thông vì xét cho cùng hắn cũng là một quân cờ trong tay cha mình, và nhân dân ta đã cực kì bao dung khi tạo thêm chi tiết giếng ngọc. Qua nhân vật Trọng Thủy với những việc mà hắn đã làm, tác giả đã mang đến bài học cho thế hệ sau về sự cảnh giác cũng như kết quả của những kẻ làm việc sai trái sẽ phải trả giá đắt, sống trong tội lỗi, và đau đớn khôn nguôi.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 5

trong những mẩu truyện truyền thuyết đều thể hiện thời kỳ dựng nước và giữ nước của Việt Nam ta từ xưa tới nay. Trong số đó, truyền thuyết “An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy” là một tác phẩm cực kì tiêu biểu, để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc.

Đọc xong mẩu truyện, người đọc không thể nào không suy nghĩ đến nhân vật Mị Châu, một người con gái nết na xinh đẹp, nhưng có chút ngây thơ khờ khạo để rồi phải trở thành tội nhân thiên cổ, và chết trong đau đớn. Mị Châu đó là con gái yêu kiều của của vua An Dương Vương, nàng nổi tiếng là cô nàng xinh đẹp, trong sáng, ngây thơ, đoan trang đức hạnh, có có gì để phê phán. Nhưng chính thủ đoạn thâm độc của Trọng Thủy đã khiến cho nàng rơi vào tình trạng không thể giải quyết trọn vẹn giữa hiếu và tình, Mị Châu trở thành kẻ tội đồ phản nghịch bán nước hại dân “cõng rắn cắn gà nhà” làm cho nhân dân lầm than, vua cha mất nước.

trải qua truyền thuyết thì ta có thấy rằng Mị Châu là một người phản nghịch, một người con không biết nghĩ tới toàn cục. Một người vợ ngây thơ cả tin quá tin tưởng vào người ông xã của tớ để rồi bị lừa dối, bị phản bội, bản thân nàng cũng nhận hậu quả đáng thương.

Nhưng nếu nói rộng ra chúng ta không thể nào trách cứ Mị Châu, bởi cuộc hôn nhân của Mị Châu và Trọng Thủy đều do vua cha hai bên quyết định. Mị Châu chỉ là một cô nàng yếu ớt không tự quyết định được số phận của tớ cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Rồi khi làm vợ Trọng Thủy, Mị Châu không thể nào ngờ rằng người ông xã của tớ lại là kẻ lòng lang dạ thú, thủ đoạn cướp nước của tớ mình, làm khổ vua cha.

Mị Châu được đánh giá lại tội danh thiên cổ của nước Âu Lạc khi chính nàng đã hai lần bán nước. Lần thứ nhất lúc nàng dẫn Trọng Thủy vào nơi cất giấu chiếc nỏ thần, nói cho Trọng Thủy nghe về sự kỳ diệu của chiếc nỏ. Lần thứ hai, đó là lúc nàng nghe lời Trọng Thủy mặc chiếc áo lông ngỗng khi hai nước giao tranh, khiến cho binh lính của nước xâm lăng tìm theo và giết cha nàng nhằm thủ đoạn “Diệt cỏ tận gốc”. Mị Châu đã hại chính cha ruột của tớ bởi sự ngây ngô tới mức ngu ngốc của nàng.

Nên khi Trọng Thủy hỏi về bí mật vương quốc, Mị Châu vì quá yêu, nên đã mù quáng chỉ nghĩ tới tình cảm riêng tư mà cho Trọng Thủy xem bí mật của vương quốc đó đó là chiếc nỏ thần.Chính sự ngây thơ của Mị Châu tạo thành thảm kịch của toàn lịch sử, nhưng nàng chỉ là một người con gái vừa đáng thương vừa đáng giận mà thôi.

Vì muốn chiều lòng ông xã mà nàng đã lấy nỏ thần cho ông xã mình xem, Mị Châu thật ngây thơ, khờ khạo trong tình yêu. Nàng không thể nào biết lường trước thủ đoạn khôn lường của người mà nàng luôn tin tưởng kia. Một thủ đoạn to lớn đằng sau con người lòng lang dạ thú mà nàng vẫn nghĩ đó là ông xã mình. Người phụ nữ thời xưa chỉ biết nghe theo lời cha mẹ, rồi khi lớn lên lấy ông xã thì nghe lời ông xã cuộc sống của họ không tồn tại quyền quyết định nên việc Mị Châu nghe lời ông xã là một đạo lý mà chính xã hội phong kiến dạy cho nàng.

Suy cho cùng những gì Mị Châu làm đều là một suy nghĩ của một nhi nữ thường tình, một người con gái đoan trang đức hạnh thường có, cả cuộc đời người phụ nữ thường phải tùy theo người đàn ông người ông xã của họ. Mị Châu nào phải người học rộng hiểu nhiều, tài năng binh lược để hiểu hết người ông xã của tớ.

Một nàng công chúa hiền lành trong sáng, nhưng những tội ác mà nàng làm cho vua cha bị mất nước rồi bị giặc đuổi theo giết hại sĩ không thể nào xóa nhòa trong lịch sử. Chính vì vậy, sau cuối Mị Châu đã phải đền tội dưới lưỡi kiếm của cha mình. Bài học về nhân vật Mị Châu là một bài học cực kì cay đắng xót xa cho người con gái thánh thiện nhưng quá khờ khạo và cả tin nên để mất giang sơn.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 6

Nếu ai đó đã từng đến xã cổ Loa, huyện Đông Anh, Thủ Đô Hà Nội hẳn không thể không tìm tới với những dấu tích của thành cổ Loa xưa, nơi có giếng Trọng Thuỷ, còn gọi là giếng Ngọc, đền Thượng thờ An Dương Vương, am Bà Chúa thờ Mị Châu, chứng tích gợi nhớ đến một thời “xây thành – chế nỏ”, của một thảm kịch tình yêu được thần kì hoá. Truyền thuyết về An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ đã đi vào đời sống tâm linh của nhân dân ta và trở thành một nét văn hoá tín ngưỡng không thể thiếu. Cả ba nhân vật chính trong tác phẩm sau cuối đều phải nhận lấy những kết cục không giống nhau nhưng có lẽ đáng giận và cũng đáng thương nhất là nhân vật Mị Châu.

Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ hoàn toàn có thể chia thành hai phần. Phần thự nhất là bài học giữ nước rút ra từ những thành công của An Dương Vương và quan trọng hơn là phần thứ hai của bài học giữ nước rút ra từ sự mất cảnh giác của An Dương Vương và nhất là sự ngây thơ nhẹ dạ (và cả mất cảnh giác) của Mị Châu trong tình yêu và trong việc giải quyết mối quan hệ giữa hạnh phúc cá nhân riêng tư với quyền lợi của dân tộc, giang sơn. Cả hai bài học đều quan trọng như nhau. thảm kịch mất nước bắt nguồn từ sự mất cảnh giác của An Dương Vương.

An Dương Vương quá mơ hồ về thực chất tham lam, độc ác nham hiểm của kẻ thù nên đã nhận được lời kết tình thông hiếu; giặc kéo vào lại chủ quan không tồn tại phòng bị gì nên bị thua chạy thảm hại. Sau nữa, nó lại được tạo điều kiện từ sự nhẹ dạ, cả tin của Mị Châu. Vô tình tiếp tay cho hành động xâm lược của kẻ thù, Mị Châu vừa đáng giận, đáng trách lại vừa đáng thương. Mị Châu đáng giận vì nàng đã phạm phải những sai lầm lẽ ra không thể có ở một nàng công chúa con vua. Nỏ thần là bí mật vương quốc, là sức mạnh bí hiểm lậm nên sự bách chiên bách thắng của nước Đại Việt, vậy mà, vì thứ tình cảm vợ ông xã cá nhân, riêng tư, để thoả mãn điều mà nàng cho là trí tò mò của ông xã mà đã lén lấy nỏ cho ông xã xem, để đến nỗi nỏ thần bị đánh tráo mà không biết.

Làm lộ bí mật vương quốc cho một kẻ sẵn có thủ đoạn xâm lược, Mị Châu đã không thể ngờ hậu quả những hành động của tớ nghiêm trọng đến nhường nào. Hành động rắc lông ngỗng khi ngồi sau yên ngựa của cha để chạy thoát thần cũng chỉ là một hành động vô tình, bởi: Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh li biệt thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ỡ ngã tư đường để làm dấu, như vậy hoàn toàn có thể cứu được nhau. Chỉ đơn thuần là nghĩ đến hạnh phúc của cá nhân mình nhưng sau cuối không thể cứu nhau và lại còn là dấu cho quân giặc đuổi theo, để sau cuối nàng phải chịu cái chết như một kề “giặc trong”. Sai lầm và tội lỗi của Mị Châu là không thể chối cãi và nàng bị kết tội một cách hoàn toàn đích đáng. Cũng nhờ thế mà bài học, về tinh thần cảnh giác càng trở thành thấm thìa và sâu sắc.

Tuy thế, dân gian cũng vẫn luôn rất công minh và đầy lòng nhân ái. Người xưa chỉ ra lỗi lầm của Mị Châu nhưng cũng tìm thấy ở đó những căn nguyên sâu xa khiến cho ta thấy thực ra nàng cũng chỉ là một nạn nhân, một nạn nhân thật đáng thương. Sai lầm của nàng xuất phát trước tiên là từ sai lầm của An Dương Vương. An Dương Vương gả Mị Châu cho Trọng Thuỷ cũng đồng nghĩa với việc nhà vua đã trao cho nàng những nghĩa vụ trách nhiệm của một người vợ là cũng phải theo ông xã. Đấy là vẫn chưa kể tới việc tình yèu và nghĩa vợ ông xã hoàn toàn có thể làm làm lu mờ nghĩa vụ và trách nhiệm. Mị Châu vì quá cả tin mà đã không thể ngờ được người ông xã của tớ lại là một kẻ “gián điệp”; vậy nên mới mang bí mật của nước mình mà san sẻ với Trọng Thuỷ như một mẩu truyện san sẻ thường hay gặp ở những cặp vợ ông xã.

cũng tương tự việc bật mí bí mật nỏ thần làm cho quân nước nhà bại trận, việc rắc áo lông ngỗng một lần nữa lại vô tình chỉ lối cho kẻ thù đuổi theo hai cha con. Hai lần nàng liên tiếp phạm lỗi mà không hề ý thức được sai lầm mình đang mắc phải. Tội lỗi được gây nên chính từ sự ngây thơ, cả tin nên thật đáng thương. Việc Rùa Vàng kết tội Mị Châu làm giặc tuy đẩy nhân vật đến số phận bi thảm nhưng lại là một kết thúc thiết yếu theo quan niệm của nhân dân. Rõ ràng là Mị Châu có tội. Tội trực tiếp gây nện mất nước ấy của nàng xứng đáng phải nhận lấy cái chết. Đó là bài học thiết yếu để răn dạy tinh thần tôn vinh cảnh giác trong sự nghiệp gìn giữ đất nứớc.

Phế phán Mị Châu bằng “bản án xử tử” nhân dân cũng thấu hiểu rằng nầng mắc tội không phải do chủ ý mà là vô tình, ngây thơ, nhẹ dạ và cả tin. Bởi thế, họ đã khuôn xếp cho nàng được trở thành ngọc trai đúng như lời nguyền trên bờ biển. Máu Mị Châu chảy xuống biển, trai sò ăn được thì đều trở thành ngọc châu, xác đem về táng ở Loa Thành thì trở thành ngọc thạch. Mị Châu bị trừng phạt cho những tội lỗi nhưng cũng đã được chiêu tuyết cho tâm hồn trong sáng và ngây thơ của tớ. Hình ảnh ngọc trai – giếng nước ở cuốì tác phẩm là một sáng tạo đến mức hoàn mĩ. Nó thuộc về thái độ ứng xử vừa nghiêm khắc, vừa nhân đạo vừa thấu lí đạt tình của nhân dân ta.

Nhân vật Mị Châu vã kểt cực của nàng đã khiến cho chúng ta vừa giận, lại vừa đồng cảm và xót thương sâu sắc. Mong rằng ở một toàn cầu khác, nàng đã tự nhận thấy được bài học cho bản thân mình mà có một cuộc sống đúng đắn và thanh thản hơn. Và khi ấy, số phận Mị Châu sẽ khác…

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 7

Mị Châu – Trọng Thủy, một mối tình có lẽ gây nhiều sự để ý và tranh cãi nhất trong truyền thuyết Việt Nam. Vì yêu, vì hiếu nên họ đã mắc phải những sai lầm to lớn khiến mình phải đi vào con đường chết. Mị Châu chết hóa thành ngọc trai, còn Trọng Thủy vì thương vợ nên cũng chết trong giếng gần nơi táng Mị Châu. Ngọc trai càng rửa nước giếng này càng trong. Kết cục này vừa cảm động vừa chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc sâu xa.

Theo truyền thuyết, thời Âu Lạc, vua An Dương Vương được Rùa Vàng tặng cho một chiếc vuốt làm nỏ thần để đánh giặc. Cứ lấy nỏ bắn là giặc sẽ thua. Lần trước tiên, quân Đà sang đánh, vua An Dương Vương ứng nghiệm chiếc nỏ thần. Quả thật, quân Đà thua to. Ít lâu sau, con trai Đà sang cầu hôn với công chúa. Vua không để ý nên đã vô tình gả con gái cho kẻ đã bị mình đánh bại. Đúng như thủ đoạn trước đó, Trọng Thủy đã dỗ Mị Châu cho xem trộm chiếc nỏ thần rồi ngầm làm một chiếc khác thay thế vào đó. Trong lúc chia tay, Mị Châu dặn Trọng Thủy nếu sau này hai giang sơn loạn lạc, Mị Châu đi đâu sẽ rắc lông ngỗng đến đó để làm dấu cho Trọng Thủy tìm cứu nàng. Mất nỏ, vua An Dương Vương không hề biết nên khi quân Đà sang khiêu chiến, vua đã chủ quan và để mất nước Âu Lạc.

Vua dẫn con gái chạy theo phí bờ biển. Mị Châu ngồi sau cha rắc lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy đúng như lời ước hẹn. Đến bờ biển, vua cha kêu sứ Thanh Giang, rùa vàng nổi lên vào bảo quân giặc ngay phía sau lưng. Ngay lập tức, vua tuốt gươm chém chết Mị Châu. Mị Châu vẫn chưa nắm vững vì sao lại bị cha chết, nàng khấn rằng: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ trở thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết sẽ trở thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đề trở thành hạt châu. Khi Trọng Thủy đến chỉ còn sót lại xác Mị Châu. Trọng Thủy ôm xác Mị Châu đem về táng ở Loa Thành, xác trở thành ngọc thạch. Trọng Thủy thương tiếc khôn cùng, khi đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mị Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết.

Như vậy, sau những sai lầm tai hại, cả hai đã cùng chết bên nhau. Đặc biệt, ngọc trai khi mang rửa ở giếng nước nơi Trọng Thủy chết, càng rửa ngọc càng sáng. Có nhiều ý kiến trái chiều nhau về cái chết của Mị Châu. Có người cho rằng: Mị Châu đã ngheo theo lời Trọng Thủy cho xem trộm chiếc nỏ thần chỉ là việc thuận theo tình cảm vợ ông xã mà bỏ quên nghĩa vụ với giang sơn. Lại có kiến nói Mị Châu làm theo ý ông xã là lẽ tự nhiên, hợp đạo lý. Vậy ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai? Xét về sự việc cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần, Mị Châu làm việc này hoàn toàn không hề có thủ đoạn gì, nàng cũng không biết được ý định của Trọng Thủy đánh cắp chiếc nỏ thần và thay thế chiếc khác.

Chính sự khờ khạo này của Mị Châu là nguyên nhân trước tiên khiến nước Âu Lạc bị mất. Nhưng nói đi cũng phải nói lại. Tại sao vua cha lại bị mất nỏ thần mà không hề hay biết? Và khi quân địch đến, vua cha còn thản nhiên ngồi đánh cờ, đến lúc dùng đến nỏ thần vua mới phát hiện ra đã bị mất. Lẽ ra một vật báu quan trọng như thế, liên quan đến sự sống còn của giang sơn như thế, vua phải giữ gìn cẩn trọng, thường xuyên kiểm tra. Nhưng vua An Dương Vương đã không làm điều đó. Còn Mị Châu thì vô tình bị Trọng Thủy dụ dỗ. Nhưng nàng cũng chỉ nghĩ rằng cho Trọng Thủy xem thôi rồi lại cất đi sẽ không tác động gì. Như vậy Mị Châu vừa làm vui lòng ông xã lại không làm nguy hại đến cha. Nhưng thực sự lại ra mắt hoàn toàn trái ngược với suy nghĩ ngây thơ của nàng.

vẫn chưa hết, khi cùng vua cha chạy trốn, nàng còn dứt lông ngỗng trên áo làm dấu cho Trọng Thủy đuổi theo với mong muốn ông xã sẽ cứu mình đúng như lời ước hẹn trước đó. Nhưng lại một lần nữa, Mị Châu tiếp tay cho giặc mà không hề hay biết. Trong suy nghĩ của nàng, việc làm này hoàn toàn đúng đắn và nên làm, vì “thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh li biệt thì đau đớn khôn xiết”. Nếu như Trọng Thủy không phải con trai Đà, không phải kẻ địch của Âu Lạc thì có lẽ những gì Mị Châu làm hoàn toàn xứng đáng và hợp tình hợp lý. Nhưng thật éo le vì những việc làm mang ý nghĩa sâu sắc tình cảm vợ ông xã sâu nặng của Mị Châu lại làm cho giang sơn rơi vào tay kẻ địch. Giây phút sau cuối của cuộc đời khi bị vua cha kết án là giặc, Mị Châu mới chợt nhận thấy mình bị lừa.

Nhưng toàn bộ đã quá muộn. Nàng không chối, cũng không kêu oan mà chỉ khấn sẽ thành cát bụi nếu mình là kẻ phản nghịch, ngược lại nếu lòng nàng trong sáng, chết đi sẽ trở thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù. Quả nhiên, khi Mị Châu chết, máu của nàng chảy xuống biển, trai sò ăn phải đều trở thành hạt châu. Như vậy, nỗi oan của Mị Châu đã được giải. Chỉ tiếc rằng nàng đã chết, chết một cách bất ngờ đầy tiếc thương.

Cái chết của Mị Châu vừa chứng tỏ được tấm lòng trong trắng của nàng, vừa thể hiện hai phẩm chất đạo đức đẹp đẽ trong nàng: thứ nhất, Mị Châu là một người vợ chung thủy, nặng nghĩa tình. Thứ hai, nàng là một người con gái hiếu thảo, có tấm lòng trong sáng cũng đáng trân trọng. Đồng thời, Mị Châu chết một phần lớn vì sự chủ quan của vua cha. Lẽ ra khi gả con gái, vua phải đánh giá kỹ lưỡng xuất thân của con rể. Mặt khác, nỏ thần là vật báu quý hiếm, vua phải kiểm tra thường xuyên và cất giữ thật cẩn trọng. Nhưng vua An Dương Vương đã không làm điều đó. cho tới giây phút sau cuối, ông phải đành lòng chém chết đứa con gái yêu dấu khi nghe Rùa Vàng kết án chính kẻ ngồi sau là giặc.

Về phần Trọng Thủy, chàng đáng trách nhưng cũng đáng thương. Vì việc lấy nỏ trộm nỏ thần là do cha Trọng Thủy sai bảo. Mặc dù việc vua Đà đến lấn chiếm Âu Lạc, nhưng khi đưa sự việc ra đánh giá khách quan, khi đặt sự việc vào thời thế của giang sơn, ta lại thấy Trọng Thủy làm đúng. Vì dù tình nghĩa vợ ông xã sâu nặng nhưng chàng vẫn coi trọng việc nước hơn. Chàng hi sinh hạnh phúc riêng của tớ cho giang sơn. Chỉ tiếc rằng, trận chiến ấy lại là trận chiến phi nghĩa. Nếu là chính nghĩa thì Trọng Thủy sẽ trở thành một người hùng đẹp tuyệt vời. Trọng Thủy tuy là địch, tuy vâng lời cha lấy trộm nỏ thần nhưng mặt khác chàng không hề đối xử tệ bạc với vợ là con gái của vua An Dương Vương – người đã đánh bại cha mình. Khi vợ chết, Trọng Thủy vì thương nhớ mà cũng chết dưới giếng gần nơi chôn Mị Châu. Khi lấy ngọc đem rửa nước giếng này thì càng rửa càng sáng. Có lẽ Mị Châu đã thầm tha thứ cho Trọng Thủy. Và cả dân gian khi tạo thành cái kết này cũng đã dành sự cảm thông cho cả hai vợ ông xã.

thảm kịch đau thương, đầy éo le và oan ức này đã làm cho người đọc không khỏi day dứt. Nhưng một mặt khác, nhân dân muốn qua mẩu truyện để nhắn nhủ đến thế hệ trẻ sau rằng: Ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải thật tỉnh táo, đánh giá mọi sự việc thật kỹ lưỡng. Tuyệt đối không lúc nào được chủ quan. Nhất là những việc hệ trọng như giữ nước càng phải cẩn trọng, phải ghi nhận đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, biết xả thân vì nghĩa, biết xem xét mọi hành động đúng, sai.

Cái chết của hai vợ ông xã đã làm cho nhiều người trẻ thức tỉnh. Vì hiện nay trong xã hội có không ít những kẻ dùng mọi thủ đoạn để trục lợi cá nhân. Họ phụ vợ, phụ ông xã, phụ nhau để đạt được những mục đích riêng của tớ. Qua mẩu truyện, mỗi người hãy tự nhìn nhận lại bản thân, để cùng hướng tới cuộc sống mới, cuộc sống với những hành động và lý tưởng đẹp đẽ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 8

Đã bao thế hệ đã qua đi, có những cuộc tình trở thành huyền thoại như Chử Đồng Tử và Tiên Dung, nhưng cũng đều có những mối duyên tình hay đúng hơn là mối oan tình khiến lòng người đau xót đến ngàn năm như Mị Châu – Trọng Thủy. Giếng Mị Châu ở Đông Anh vẫn còn đấy đấy đó, bên cạnh bài học về sự việc tôn vinh cảnh giác với kẻ thù, tấm oan tình vẫn còn đấy đấy để lại những bài học nhân văn sâu sắc về tình yêu, về hạnh phúc.

Bằng còn mắt nhân đạo của nhân dân, bằng những gì chúng ta luôn muốn tin và đã tin mỗi khi đọc những trang viết về tình yêu Mị Châu Trọng Thủy, ta hoàn toàn có thể coi đây là một cuộc tình đẹp theo đúng nghĩa của nó. Mị Châu là con gái của Thục phán An Dương Vương, một công chúa xinh đẹp, ngây thơ, trong sáng. Còn Trọng Thủy lại là một hoàng tử giỏi giang, thạo việc cung kiếm binh đao. Mối lương duyên giữa đôi Tiên Đồng – Ngọc Nữ từ cái thuở Văn Lang – Âu Lạc này không thể phủ nhận rằng không đáng ngưỡng mộ và mơ ước, Bản thân tôi và có lẽ toàn bộ mọi người cũng luôn tin rằng, họ đã có những năm tháng hạnh phúc, quấn quýt bên nhau trong tình yêu đôi lứa mặn nồng.

Đã có những lúc Trọng Thủy muốn ngỏ với Mị Châu những mưu toán, tính toán độc ác của cha mình để cứu nàng khỏi họa binh đao đầu rơi máu chảy. Vậy thì sao hoàn toàn có thể nói rằng tình yêu của Trọng Thủy chỉ là sự dối trá, lừa lọc cho được. Chỉ trách sao cho nghĩa tình phu phụ và tấm lòng trung hiếu không thể dung hòa, trách sao cho Trọng Thủy lại quá tham lam để phá vỡ mất mối nhân tình đẹp tựa mộng ước này. cho tới khi Mị Châu chết đi, chàng vẫn một lòng ôm ấp lấy hình bóng nàng để rồi chết đi trong nỗi ân hận day dứt vì một tình yêu vẫn chưa được trọn vẹn. Tình yêu của chàng lúc này, cái chết của chàng lúc này phải chăng cũng chỉ là một sự lừa dối. Nhưng có còn gì để dối lừa nữa đâu khi Mị Châu đã chết, Triệu Đà đã đạt được tham vọng của tớ. Sự ra đi này của Trọng Thủy chỉ hoàn toàn có thể là một lời xin lỗi, một sự cứu vớt muộn màng cho tình yêu đã mất. Để rồi khi hóa kiếp sau, hai người lại hoàn toàn có thể yêu nhau trọn đời trọn kiếp không phai….

Nhưng trớ trêu thay, nếu tình yêu kia đẹp đẽ như thế, cứ bằng phẳng và ngọt ngào như thế thì sẽ chẳng có mối oan tình Mị Châu Trọng Thủy tạc dấu đến ngàn năm trên bia đá lịch sử Việt Nam. Dù muốn đến đâu đi chăng nữa thì chúng ta cũng không thể phủ nhận được rằng, cuộc hôn nhân đẹp đẽ của Mị Châu – Trọng Thủy lại xuất phát từ một động cơ chẳng mấy đẹp đẽ. Trọng Thủy sang làm rể An Dương Vương trước là vì muốn do thám giang sơn Âu Lạc, sau mới là vì tình yêu với Mị Châu. Tình cảm của chàng hoàn toàn có thể là chân thành, là đẹp đẽ đấy nhưng từ xưa đến nay, chỉ có tình yêu chân thành mới được đền đáp xứng đáng, không thể nào có thứ tình yêu đồng hành với những toan tính thấp hèn, với tham vọng cướp nước. Để rồi khi người ta muốn đi ngược lại chân lý thì cũng là lúc thảm kịch bắt đầu.

Một Mị Châu nhẹ dạ cả tin, hết niềm tin tưởng ông xã mà chẳng chút mảy may nghi ngờ, chẳng chút đề phòng cảnh giác. Một Trọng Thủy vừa muốn trọn nghĩa với non sông, vừa muốn vẹn tình với gia đình, với người vợ thân yêu mà chàng hết mực yêu thương. Niềm tin ấy, khát khao ấy tưởng như chẳng có gì đáng trê trách, phê phán nhưng chính nó lại là nguyên nhân dẫn đến thảm kịch tình yêu của hai người. Mị Châu rõ ràng đã tin tưởng rằng, Trọng Thủy đến với nàng bằng cả tấm chân tình. Sự ngây thơ ấy của cá nhân nàng là điều hoàn toàn có thể tha thứ nhưng vì tình yêu mà để lộ bí mật vương quốc thật sự là một tội lỗi khó dung tình. Đáng trách hơn nữa, tình yêu ấy thiếu lý trí và sáng suốt đến nỗi nàng không đủ tỉnh táo để nhận thấy lời nói của ông xã khi li biệt tiềm tàng họa binh đao “Ta này trở về, nếu như hai nước thất hòa ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu”.

Mị Châu mê muội đến mức không thể nói một lời hỏi nguyên cớ khi chia lìa mà chỉ chăm chăm nghĩ về sự sum họp lứa đôi. Sự nông nổi của Mị Châu vẫn còn đấy đấy tiếp tục khi quân Triệu Đà sang xâm lược Âu Lạc, nàng theo cha chạy trốn mà vẫn không quên việc rắc lông ngỗng dọc đường để làm dấu cho Trọng Thủy. cho tới lúc này thì tình yêu của Mị Châu chẳng thể được gọi là ngây thơ, trong sáng mà chỉ còn là sự mê muội, mù quáng. Nó đã hại chết cả một dân tộc Âu Lạc đang trên đà phát triển, hại chết cả người cha thân yêu bao năm gắn bó với nàng. Cái chết của Mị Châu âu cũng là một sự đền tội, một lời thanh minh cho tấm lòng trong trắng nhưng bị người lừa dối, phụ bạc của nàng.

Mị Châu ra đi nhưng thân xác nàng không hóa thành cát bụi, máu nàng đã hóa thành ngọc trai – viên ngọc sáng được rửa bằng máu và nước mắt, bằng cả cuộc đời trong trắng của nàng. Người ta thường cho rằng, cái chết là sự kết thúc đẹp đẽ nhất cho những thảm kịch. Nhưng thảm kịch này vừa qua đi thì thảm kịch khác lại được tiếp nối, Mị Châu chết đi để lại mối oan tình ai oán đến ngàn năm. Khi nàng còn sống, còn hết niềm tin tưởng Trọng Thủy thì chàng lại phản bội. Còn khi Mị Châu đã ra đi, mang theo sự oán giận, căm thù kẻ lừa dối, người phụ tình thì Trọng Thủy mới hối hận, mới ôm xác nàng trở về trong nỗi dằn xé cõi lòng, trong sự đau đớn đến tột độ vì không kịp níu giữ một tình yêu muộn màng đã qua. Trong mắt nhân dân Âu Lạc, hoàn toàn có thể Trọng Thủy là một tên giặc, một tên gián điệp xấu xa nhưng thực sự chàng cũng chỉ là một nạn nhân của chiến tranh, của tham vọng quyền lực và tình yêu.

Để rồi khi công đã thành, danh đã toại, người đàn ông ấy lại mang theo nỗi thương nhớ người vợ dấu yêu mà nhảy xuống giếng tự vẫn. Nhưng dù nước giếng Trọng Thủy hoàn toàn có thể rửa sạch ngọc Mị Châu thì tình yêu giữa hai người cũng không thể nào quay về như xưa. Một khi niềm tin đã tan vỡ, khi Mị Châu đã phải trả giá cho sự mê muội của tớ bằng cả tính mạng thì tin chắc rằng nàng chẳng lúc nào còn hoàn toàn có thể mù quáng lần thứ hai để hi sinh cuộc đời mình cho một thứ niềm tin vô nghĩa.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 9

Trong chuỗi những truyền thuyết hào hùng về thời kỳ dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, truyền thuyết về An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy là tác phẩm tâm đắc nhất. Đọc xong mẩu truyện, người đọc không thể không suy tư về cuộc đời của Mị Châu, một cô nàng dịu hiền xinh đẹp, trọng nghĩa trọng tình lại phải chịu một chiếc kết oan ức và xót xa hơn lúc nào hết.

“Tôi kể ngày xưa truyện mị châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”

Mị Châu là nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần của An Dương Vương, ngây thơ và trong sáng. Nàng không thể giải quyết được lý và tình, giữa hiếu và nghĩa để rồi sau cuối phải chịu cái chết oan ức. Qua truyền thuyết, người đọc cũng hoàn toàn có thể cho rằng Mị Châu là một kẻ phản nghịch vì nàng đã trực tiếp tiếp tay cho giặc, bán nước hại cha nhưng thực sự là Mị Châu trở thành tội phạm vì nàng đã quá ngây thơ, tin tưởng người khác, tin vào tình yêu mà đã vô tình quên đi giang sơn, quên đi cha mình. Chính sự tin yêu mù quáng đó cho nên Mị Châu đã trực tiếp tạo thành tấn thảm kịch của lịch sử này.

Chúng ta đã thấy hai lần Mị Châu vì nhẹ dạ cả tin cho nên đã vô tình tiếp tay cho giặc. Lần thứ nhất là vào đêm tâm sự, khi mà Trọng Thủy ngỏ ý muốn xem nỏ thần thì nàng đã không hề ngần ngại và lấy cho ông xã xem, bật mí bí mật về chiếc nỏ cho Trọng Thủy. Nàng vừa đáng thương lại vừa đáng trách bởi nàng đã đem bí mật, vận mệnh giang sơn đề làm đẹp thêm tình vợ ông xã nhưng đáng thương ở chỗ nàng cả tin ngây thơ yêu chàng, và muốn chiều theo ý ông xã, lại là người phụ nữ ở xã hội xưa thì càng nói lên rõ về điều đó.

Lần thứ hai là trong ngày tiễn biệt, cũng chỉ vì chữ yêu, yêu tới mù quáng cho nên Mị Châu đã không hề mảy may nghi ngờ gì về câu hỏi đầy dụng ý, cũng không hề nhận thấy thủ đoạn của ông xã mình, nàng đã reply thành thật rằng: “Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ thiếp chạy phương nào, thiếp sẽ rắc long ngỗng dọc đường, chàng cứ theo dấu long ngỗng mà tìm”. Nàng cũng không hề biết rằng chính hành động đó đã dẫn đường cho giặc.

Và cũng suy cho cùng thì nàng cũng đáng thương bởi một cô nàng ngây thơ, vô tư như nàng không hề nhận thấy tâm địa đó mà chỉ luôn mong ngóng ngày ông xã đi trở về bên mình, đó là ý nghĩ của nàng khi sợ chàng không tìm được cho nên đã nói như thế. Tình yêu đã làm u mê con người,u mê tới nỗi ngồi sau lưng nhưng mà nàng vẫn giữ lời hứa bứt lông ngỗng rải ở dọc đường đi, tới lúc này mà vẫn còn đấy đấy hành động mu muội như thế thì thực là một sai lầm nghiêm trọng không thể nào tha thứ được.

sau cuối nhân dân đã thông cảm cho Mị Châu. Nàng đã phải đền tội dưới lưỡi kiếm của cha mình bằng sinh mạng của tớ, Tội đã đền nhưng oan ức thì mãi còn đó, cho tới sau cuối thì người con gái thủy chung bị lừa dối lên tiếng nói rằng “Thiếp là phận gái, nếu có,lòng phản nghịch chết đi sẽ hóa thành hạt bụi, còn nếu một long trung hiếu mà bị người lừa dối chết đi sẽ hóa thành châu ngọc để tẩy sạch mối thù nhục và tỏ dạ trắng trong”.

Hình ảnh ngọc châu mà Mị Nương nhắc tới không thể là hình tượng của một tình yêu trong trắng nữa mà chỉ minh giải cho nỗi oan của nàng. Bài học về Mị Châu là bài học chua xót vì đã quá cả tin thiếu suy nghĩ, là bài học cảnh tỉnh cho toàn bộ mọi người “trái tim để trên đầu” như nhà thơ Tố Hữu đã “tâm sự” một cách sâu sắc, thấm thía.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

10


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy số 10

Trọng Thủy làm rể của An Dương Vương. Mọi nguyên nhân thảm kịch trước hết bắt đầu từ An Dương Vương khi đã để tình riêng lấn át tầm nhìn của một đấng minh quân. Nhất là, kẻ ở rể lại phục vụ cho dã tâm của Triệu Đà – lấy tuyệt kỹ nỏ thần để cướp nước.Sự mất cảnh giác đáng trách của An Dương Vương làm mất nước đã đành , nhưng hậu quả của nó mang ý nghĩa sâu sắc thảm kịch là làm nên cảnh sinh li tử biệt, tan vỡ tình duyên của Mỵ Châu – Trọng Thủy.

Mặc dù truyền thuyết được ghi lại bởi người đời sau hết sức ngắn gọn, nhưng cốt lõi của thảm kịch ấy vẫn thật rõ ràng: mối quan hệ thông gia của hai nhà vốn dĩ đối địch tiềm tàng những bất trắc khó lường. Vậy mà An Dương lại “vô tình” gả con gái yêu của tớ cho con trai kẻ thù.Theo mạch kể của truyền thuyết không tồn tại những lí giải về nguyên nhân sâu xa khiến cho Mị Châu đã tiếp tay cho Trọng Thủy đánh cắp lẫy nỏ thần Kim Qui. Nhưng theo mạch truyện, Mị Châu rõ ràng đã tin Trọng Thủy đến với nàng bằng cả tấm chân tình.

Sự ngây thơ ấy của cá nhân nàng là điều hoàn toàn có thể tha thứ, nhưng vì tình riêng mà để lộ bí mật vương quốc thật sự là một tội lỗi khó dung tình.Đáng trách hơn, tình yêu ấy thiếu lí trí sáng suốt đế nỗi nàng không nhận thấy được những ẩn ý trong lời nói của Trọng Thủy khi từ biệt để cảnh báo với vua cha. Nàng không đủ tỉnh táo để nhận thấy trong lời ông xã tiềm tàng hiểm hoạ binh đao: “Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hoà, bắc nam cách biệt, ta lại tìm nàng lấy gì làm dấu?”. Mị Châu mê muội đếm mức không thể nói một lời hỏi nguyên cớ chia lìa, lại chỉ chăm chăm nghĩ về sự sum họp lứa đôi. Đặt tình riêng lên trên vận mệnh vương quốc như vậy quả thật đáng phê phán.

Đằng sau tình duyên Mỵ Châu – Trọng Thủy là cả một thủ đoạn thôn tính thâm hiểm của Triệu Đà, không ai khác kẻ triển khai gian kế ấy lại là Trọng Thủy. Hắn ngay từ khi đạt chân đến Loa Thành làm rể đã đặt nhiệm vụ gián điệp lên hàng đầu. Bỉ ổi hơn, hắn đã lợi dụng ngay người vợ ngây thơ để triển khai gian kế mĩ mãn. Xét về thực chất Trọng Thủy là một kẻ gian trá và tham lam: lừa gạt vợ để lấy vuốt Rùa Vàng, vừa thủ đoạn cướp được nước, vừa muốn được chiếm đoạt trọn vẹn trái tim của Mị Châu. Từ thủ phạm, hắn trở thành nạn nhân của chính mình. Không thể nào có sự dung hoà giữa quyền lợi vương quốc với tình yêu đôi lứa khi thù địch là cái mầm hoạ tiềm tàng trong mối quan hệ vợ ông xã.

An Dương Vương mất nước từ sự thiếu cảnh giác, khinh địch của tớ. Bản thân nhà vua mong mỏi hoà hiếu giữa hai vương quốc, chấm hết cảnh đao binh từ duyên tình con trẻ. Nhưng trớ trêu thay, đó lại là chỗ hở để kẻ dã tâm là cha con Triệu Đà lợi dụng. Bản thân An Dương Vương cũng phải gánh chịu thảm kịch khi tuốt gươm trừng phạt kẻ phản bội là chính con gái yêu của tớ, nhà vua đã đứng trên quyền lợi vương quốc mà gạt bỏ tình riêng, hành động ấy được trân trọng bằng phương pháp xử lí của dân gian: Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua xuống biển. Mị Châu phải trả giá bằng sự nông nổi của tớ, nhưng nàng cũng kịp thức tỉnh để nhận thấy thảm kịch của tớ. Một người con gái ngây thơ trong trắng đáng yêu bị phản bội, sau cuối nàng đã nhận được ra bộ mặt kẻ thù dù quá muộn màng.

Cái nhìn nhân hậu của nhân dân ta đã giành cho Mị Châu khi để nàng hoá thân thành ngọc thạch, máu hoá thành hạt châu nhưng cũng thật công minh khi từ lập trường yêu nước trừng trị kẻ có tội. Mị Châu quả thật đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Truyền thuyết không thể chỉ kể lại trang sử mất nước mà chứa đựng cái nhìn thương cảm cho lứa đôi – khi tình yêu phải đối mặt với thủ đoạn.

Trọng Thủy đã phải trả giá cho sự lừa dối khi hắn chỉ còn mang được xác Mị Châu về chôn cất. Với kẻ cướp nước, nhân dân ta không để cho hắn chiếm đoạt và tiếp tục lừa phỉnh Mị Châu. Nhưng điều đáng nói hơn là cái chết lao đầu xuống giếng của Trọng Thủy và kết thúc mẩu truyện: “Người đời sau mò được ngọc trai ở biển Đông, lấy nước giếng mà rửa, thì thấy trong sáng thêm”. Sự lừa dối nhơ nhớp của Trọng Thủy là lời cảnh tỉnh : chỉ có tình yêu chân thành mới được đền đáp xứng đáng, không thể nào tình yêu đồng hành với những toan tính thấp hèn, tham vọng cướp nước.

Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy muôn đời vẫn còn đấy đấy giá trị từ ý nghĩa sâu sắc nhân văn, từ bài học cảnh giác cũng như lời nhắc nhở về cách giải quyết những mối quan hệ riêng – chung, cá nhân – xã hội. mẩu truyện thảm kịch thấm thía ấy cũng là sư ïthể hiện lập trường và tình cảm rõ ràng của nhân dân ta trước những vấn đề lịch sử và quan hệ con người.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 10 Bài phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy trong “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”, Top 10 Bài phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy trong “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”, Top 10 Bài phân tích nhân vật Mị Châu và Trọng Thủy trong “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *